<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>Lelawfirm&#039;s Blog - Le song la Le phai!</title>
	<atom:link href="http://lelawfirm.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://lelawfirm.wordpress.com</link>
	<description>- Hướng Tới Sự Hoàn Mỹ -</description>
	<lastBuildDate>Wed, 29 Jul 2009 03:47:01 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='lelawfirm.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://s2.wp.com/i/buttonw-com.png</url>
		<title>Lelawfirm&#039;s Blog - Le song la Le phai!</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://lelawfirm.wordpress.com/osd.xml" title="Lelawfirm&#039;s Blog - Le song la Le phai!" />
	<atom:link rel='hub' href='http://lelawfirm.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Những điều cần quan tâm trước khi tiếp xúc với khách hàng&#8230;</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/29/nh%e1%bb%afng-di%e1%bb%81u-c%e1%ba%a7n-quan-tam-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-khi-ti%e1%ba%bfp-xuc-v%e1%bb%9bi-khach-hang/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/29/nh%e1%bb%afng-di%e1%bb%81u-c%e1%ba%a7n-quan-tam-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-khi-ti%e1%ba%bfp-xuc-v%e1%bb%9bi-khach-hang/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Jul 2009 03:42:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=262</guid>
		<description><![CDATA[I.1. Lựa chọn khách hàng Khách hàng là nguồn sống, là đối tác của luật sư. Nói như vậy, có nghĩa rằng, luật sư phải có khách hàng, thu hút khách hàng, phải xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng, nhưng làm được điều đó, luật sư phải xây dựng uy tín và [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=262&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;">I.1. Lựa chọn khách hàng Khách hàng là nguồn sống, là đối tác của luật sư. Nói như vậy, có nghĩa rằng, luật sư phải có khách hàng, thu hút khách hàng, phải xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng, nhưng làm được điều đó, luật sư phải xây dựng uy tín và niềm tin của mình đối với khách hàng. Trong hoạt động tư vấn pháp luật, không phải luật sư tìm đến với khách hàng mà khách hàng đến với luật sư. Khách hàng có quyền chọn luật sư hoặc công ty tư vấn pháp luật nào mà họ muốn, họ tin cậy. Khách hàng cũng có thể chọn một luật sư vì những mối quan hệ cá nhân như quen biết, qua giới thiệu,&#8230; Có thể nói, khách hàng đến với luật sư qua các kênh, như uy tín, kiến thức và chuyên môn, sách báo xuất bản, các bài giảng tại các Hội thảo khoa học, do sự giới thiệu của các khách hàng khác, khách hàng quen, quan hệ cá nhân tốt, qua tiếp xúc cá nhân, tổ chức, các cuộc thi hay sự phát triển của thị trường. Tuy vậy, luật sư cũng có quyền lựa chọn khách hàng và đây là điểm đầu tiên để quyết định sự thành bại của hoạt động tư vấn. Vậy khách hàng của bạn là ai? Trong thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật của Việt Nam thường có hai mối khách hàng: khách hàng Việt Nam và khách hàng nước ngoài.</p>
<p style="text-align:justify;">I.1.1. Khách hàng Việt Nam Người Việt Nam (khách hàng Việt Nam) có tâm lý thắng thua trong kiện cáo. Khi bắt đầu việc kiện nhau họ thường tìm mọi cách để giành phần thắng về mình kể cả việc tìm luật sư giỏi để tư vấn. Đồng thời, người Việt Nam cũng có tâm lý chuộng hình thức, như các công ty thường mời những luật sư giỏi tư vấn cho mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng của công ty. Khi tiếp xúc với luật sư tư vấn, khách hàng Việt Nam thường biểu hiện dưới hai dạng sau đây: &#8211; Thứ nhất, mang nặng suy nghĩ chủ quan, luôn cho rằng mình đúng. Vì vậy khi tiếp xúc với luật sư, khách hàng tìm mọi cách để áp đảo, thuyết phục luật sư hiểu như mình, tức là khách hàng đang đúng. Có trường hợp khách hàng đúng, nhưng cũng không ít trường hợp khách hàng chủ quan nguỵ biện, ngộ nhận. Khi đó, luật sư phải giải thích, yêu cầu khách hàng trình bày một cách mạch lạc, cung cấp các thông tin cần thiết đối với việc cần tư vấn, trên cơ sở đó luật sư sẽ tiến hành các bước như tư vấn ở đoạn sau. &#8211; Thứ hai, biết sai, thậm chí có đầy đủ cơ sở chứng minh là sai nhưng vẫn cố tình bảo vệ cái sai của mình. Khách hàng trong trường hợp này muốn luật sư biến cái sai thành cái đúng, khai thác lợi ích từ những điểm, vấn đề sai đó để họ được lợi hoặc khách hàng nhờ luật sư tư vấn để khắc phục, nhằm giảm bớt tổn thất, giảm bồi thường thiệt hại do lỗi của họ gây ra. Ví dụ: Đối với các việc ly hôn có gắn liền với việc chia tài sản và con cái. Trước khi đưa vụ kiện ra Toà, khách hàng thường yêu cầu luật sư giúp họ bằng cách nào vừa ly hôn, được chia tài sản (không phải của mình) vừa được nuôi con. Trong trường hợp này, xét về mặt đạo đức nghề nghiệp, luật sư không được giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật. Luật sư tư vấn giúp họ giải toả được về mặt tâm lý, để họ thấy rằng pháp luật chỉ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, thực hiện những điều trái với pháp luật là trái với tư cách hành nghề của luật sư. Tuy vậy trong từng trường hợp cụ thể, luật sư tư vấn có thể giúp khách hàng của mình tận dụng các quy định của pháp luật để giảm bớt trách nhiệm cho họ.</p>
<p style="text-align:justify;">I.1.2. Đối với khách hàng nước ngoài Khách hàng có thể là cá nhân nước ngoài hoặc các doanh nghiệp, các công ty, tổ chức nước ngoài thành lập và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Khác hàng nước ngoài thường là những người hiểu biết pháp luật, có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản lý và đầu óc tổ chức. Vì vậy, các yêu cầu của họ thường rõ ràng, rành mạch. Khác với khách hàng Việt Nam, họ ít khi yêu cầu luật sư Việt Nam tư vấn cho họ những điều trái với pháp luật, rất coi trọng hình thức và uy tín nghề nghiệp. Vì vậy, khi làm việc với họ, luật sư phải thể hiện bản lĩnh là người am hiểu pháp luật Việt Nam, có uy tín và thâm niêm trong nghề, là người bảo vệ quyền lợi cho khách hàng phù hợp với pháp luật Việt Nam. Khách hàng nước ngoài sẽ không hài lòng, nếu luật sư làm việc thông qua kinh nghiệm cá nhân hoặc lợi dụng mối quen biết để đi cửa sau. Để thu hút khách hàng nước ngoài, luật sư có thể tiến hành một số hoạt động sau: &#8211; Kỹ thuật tiếp thị: Là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong các quốc gia kinh tế thị trường. Các cơ quan tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thị trường thường bận bịu với công việc không có điều kiện tìm hiểu sâu sắc các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình, vì vậy để chiếm lĩnh thị trường luật sư cần phải tiếp thị và có thể thông qua một số hình thức như: Hội thảo, giới thiệu công ty tư vấn của mình bằng các cuốn sách nhỏ hoặc các tờ rơi hay làm tư vấn tại gia, tại cơ quan để củng cố quan hệ với khách hàng, tiếp đãi khách hàng -đây là cách thức quan trọng để tạo quan hệ, họp báo, quảng cáo&#8230; &#8211; Uy tín: Là phương tiện tiếp thị quý giá nhất, là yếu tố quan trọng nhất đối với khách hàng khi họ lựa chọn luật sư tư vấn. Tạo được uy tín tốt là luật sư đã có được một gia tài. Một hãng luật, công ty luật hoặc một luật sư có uy tín chắc chắn sẽ thu hút được những khách hàng tốt nhất và có cơ hội tham gia vào các giao dịch lớn nhất. Qua đó luật sư sẽ được tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm đồng thời thu hút được nhiều khách hàng. &#8211; Trung thực: Đừng bao giờ thiết lập kiểu quan hệ mua bán với khách hàng, Phải xây dựng quan hệ với khách hàng trên cơ sở chân thực, hợp tác, bền vững và hai bên đều có lợi. Phải để khách hàng thầy rằng, bạn (luật sư) hay công ty bạn là người làm ăn đứng đắn, đàng hoàng, không mang tích chất chộp giật, không lấy chuyện tiền bạc làm mục tiêu. Điều đó củng cố uy tín của bạn, tạo niềm tin cho khách hàng và duy trì được mối khách hàng thường xuyên cho bạn. &#8211; Tính kiên nhẫn: Đừng bao giờ tỏ ra sốt ruột, muốn tạo ngay một mối khách hàng rộng lớn. Khách hàng thường xuyên, rộng lớn, gắn bó với luật sư phải được hình thành qua thời gian. Khách hàng khi lựa chọn cũng phải thử thách. Hiệu quả của công việc, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, uy tín kết hợp với tính kiên nhẫn tạo nên sự thành công của luật sư.</p>
<p style="text-align:justify;"> I.2. Thù lao và thanh toán chi phí Khách hàng Việt Nam hay khách hàng nước ngoài ngoài yếu tố chuyên môn vấn đề họ quan tâm là thù lao của dịch vụ. Cùng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ như nhau, khách hàng sẽ chọn luật sư hay công ty (hãng) luật có mức phí thấp. Tuy nhiên, giá thấp chưa phải là vấn đề quyết định mà chỉ là một yếu tố để khách hàng cân nhắc. Thông thường khi nhờ đến luật sư họ sẽ chủ động hỏi về các chi phí và khách hàng nước ngoài thù lao thường được coi là vấn đề nghiêm túc, thẳng thắn và sòng phẳng. Vì vậy, luật sư nên chủ động tính toán vấn đề chi phí với khách hàng nước ngoài, thông báo các chi phí cần thiết để họ chấp nhận hay không chấp nhận. Còn với khách hàng Việt Nam chưa quen với các vấn đề chi phí, nhiều khi không đặt vấn đề thù lao dịch vụ với luật sư mà thường chủ động dùng quà biếu để thay cho tiền dịch vụ. Đối với những dịch vụ có giá trị lớn luật sư tư vấn không được chấp nhận cách trả chi phí như trên. Hiện tại chưa có một văn bản nào chính thức quy định về chi phí mà khách hàng cần phải trả cho luật sư tư vấn. Các đoàn luật sư hay công ty luật có quy định, cách tính khác nhau về chi phí luật sư. Một số luật sư hành nghề độc lập cũng tự định giá cho khách hàng. Theo Điều 55 Luật Luật sư, mức thù lao và phương thức tính thù lao dựa trên các căn cứ: Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; kinh nghiệm và uy tín của luật sư; giờ làm việc; vụ, việc với mức thù lao trọn gói; vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án; hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định Ngoài các khoản thù lao, khách hàng có thể thoả thuận với luật sư về việc thanh toán tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện yêu cầu của mình. Việc thanh toán các khoản chi phí thực hiện theo các quy định của pháp luật về kế toán (Điều 56, 57, 58). Đối với những luật sư tư vấn làm việc với các khách hàng nước ngoài thông thường áp dụng cách tính thù lao như sau: &#8211; Mức thù lao theo giờ. Thông thường khi khách hàng tiếp xúc với bạn, sau khi đã nắm bắt được nội dung công việc luật sư tư vấn chủ động thông báo cho khách hàng số giờ cần phải thực hiện và số tiền phải trả cho mỗi giờ đó. &#8211; Mức thù lao hỗn hợp. Được tính theo giờ chung cho mọi luật sư tham gia cuộc giao dịch từ các luật sư lâu năm đến các luật sư mới vào nghề. Mức thù lao này căn cứ vào mức trả quy định chung cho mỗi luật sư, thời gian bỏ ra của từng luật sư cộng với một khoản tiền xê dịch lên xuống. Nhìn chung khách hàng thích trả tiền thù lao cho luật sư theo mức thù lao hỗn hợp vì họ biết rằng nếu có phát sinh vấn đề phức tạp trong giao dịch hoặc nếu công việc cần thêm thời gian của các luật sư lâu năm, thì họ vẫn phải chi trả cùng một mức thù lao hỗn hợp. &#8211; Lệ phí trần. Khách hàng thường tìm cách giảm tối thiểu các chi phí pháp luật trong tổng chi phí của một giao dịch để tăng khả năng cạnh tranh của mình và giảm tới mức thấp nhất thiệt hại nếu vụ việc không thành công. &#8211; Lệ phí cố định. Việc áp dụng giá cố định đối với những công việc nhất định ngày càng trở lên thông dụng. Một số khách hàng đã quen với mức lệ phí cố định theo quy mô của cuộc giao dịch. Lệ phí cố định giống như lệ phí trần, nhưng khác ở chỗ, lệ phí cố định khuyến khích luật sư tiến hành giao dịch và quản lý nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm tăng tối đa lợi nhuận. Khi lựa phương thức lệ phí cố định, phải cân nhắc nên thu lệ phí về việc gì, liệu lệ phí tính theo mức quy định chung cho các luật sư là thấp hay cao hơn mức tỉ lệ cố định nói trên. Phương thức tính lệ phí này thường gồm có một phần lệ phí cho việc hoạch định giao dịch ban đầu và thường áp dụng đối với các khách hàng lớn, quen biết hoặc các khách hàng thuộc dạng ưu tiên đặc biệt. Đối với cách tính này nên thoả thuận về khoản lệ phí cố định với các khoản lệ phí thoả thuận cho từng phần việc của giao<span id="more-262"></span> dịch và các nội dung có tích chất điều kiện thông thường của một chương trình công việc đã thảo thuận, điều khoản về thanh toán và những trường hợp xem xét lại lệ phí. &#8211; Tạm ứng tiền thù lao. Thông thường với các việc kéo dài hoặc không rõ sẽ kết thúc vào thời điểm nào, trong hợp đồng được ký kết giữa luật sư tư vấn và khách hàng sẽ có thêm điều khoản tạm ứng tiền thù lao trước. Điều khoản này có thể được thoả thuận và nêu rõ số lượng tiền tạm ứng, thời gian, địa điểm và phương thức thanh toán. Việc tạm ứng tiền chỉ áp dụng cho những việc có thù lao cao. Hiện nay chưa có quy định nào vê việc luật sư tư vấn có quyền nhận tiền thanh toán trước cho các chi phí, về việc sử dụng, quản lý và bảo quản số tiền này khi công việc chưa kết thúc mà khách hàng và luật sư thường thỏa thuận với nhau bằng một hợp đồng tư vấn pháp luật trong đó nêu rõ thời hạn thực hiện dịch vụ, thù lao định mức được trả theo tháng hoặc theo quý. Ví dụ, mỗi tuần luật sư phải có mặt hai ngày tại Công ty A và giải quyết hoặc giải đáp các vấn đề, thắc mắc liên quan đến pháp luật và hàng tháng Công ty A trả cho luật sư một số tiền cố định không phụ thuộc vào việc luật sư A giải quyết được bao nhiêu vấn đề. Ngoài tiền thù lao, luật sư cũng nên chỉ ra các khoản chi phí khác trong quá trình tư vấn như chi phí điện thoại, Fax, in ấn và photo tài liệu, lệ phí đi lại, thuế&#8230; Để tránh tình trạng tranh cãi nên nói rõ thời hạn thanh toán.</p>
<p style="text-align:justify;"> I.3. Tiếp xúc với khách hàng: Một khâu quan trọng có ảnh hưởng đến kết quả của quá trình tư vấn Nói chung khách hàng Việt Nam hay khách hàng nước ngoài dù có khác nhau ở một số điểm nhưng họ đều tin tưởng và kỳ vọng vào luật sư nhiều điều. Vì vậy khi làm việc với khách hàng, luật sư phải có một số thao tác bắt buộc. Trước hết, không được tỏ ra bi quan hoặc lạc quan thái quá sau khi biết được những thông tin đầu tiên của khách hàng. Cần lắng nghe, nếu một lần chưa đủ có thể đề nghị họ trình bày nhiều lần và yêu cầu họ cung cấp thêm tài liệu hoặc hẹn gặp để thông qua giao tiếp nắm được một cách cụ thể bản chất của vấn đề mà khách hàng yêu cầu. Có những vấn đề khách hàng yêu cầu tư vấn ngay luật sư vẫn phải thận trọng trước khi đưa ra các kết luận, bởi một kết luận sai sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của khách hàng, làm giảm uy tín của bạn. Để đảm bảo cho tư vấn đạt kết quả, luât sư nên thực hiện một số điểm lưu ý sau đây. I.3.1. Xem xét các mối quan hệ về lợi ích của đương sự với khách hàng mà mình đang tư vấn giúp họ. Người luật sư trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được tư vấn cho hai khách hàng mà lợi ích của họ trái ngược nhau. Vì vậy trước khi lựa chọn khách hàng bạn phải kiểm tra vấn đề mâu thuẫn về lợi ích, nếu có phải từ chối một bên khách hàng để bảo vệ mối khách hàng quen của bạn. Việc mâu thuẫn về lợi ích cũng có thể phát sinh ngay sau khi đã bắt tay vào công việc, luật sư phải ngừng ngay công việc cho các khách hàng khi có sự phát sinh đối kháng về lợi ích giữa các khách hàng. Một số trường hợp xung đột về lợi ích thường gặp:</p>
<p style="text-align:justify;">- Một khách hàng yêu cầu tiến hành tư vấn chống lại một khách hàng khác cũng là khách hàng của luật sư. &#8211; Cùng một lúc làm việc cho cả phía người bán và phía người mua trong một cuộc mua bán tài sản. &#8211; Một khách hàng yêu cầu tư vấn về một tài liệu mà luật sư đã soạn thảo cho một khách hàng khác. &#8211; Luật sư phải cùng một lúc tư vấn cho ngân hàng cho vay tiền và người vay tiền. &#8211; Luật sư làm việc cho khách hàng A trong khi bạn nắm được thông tin bí mật khách hàng B cung cấp và thông tin này liên quan đến công việc mà khách hàng A giao cho bạn. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư có quy định các hành vi luật sư bị nghiêm cấm, cụ thể: a, Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật; b, Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật; c, Tiết lỗ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biét được trong khi thi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; d, Sách nhiễu, lừa dối khách hàng; đ, Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; e, Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc; g, Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Như vậy, khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư không quy định cấm cụ thể về luật sư tư vấn, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, luật sư tư vấn cũng không được tư vấn cho các khách hàng có quyền và lợi ích đối kháng nhau. I.3.2. Thông tin cho khách hàng Khi tiến hành công việc ngay từ đầu luật sư tư vấn phải cung cấp cho khách hàng mọi thông tin mà họ cần biết, tốt nhất là bằng văn bản. Các thông tin đó bao gồm: &#8211; Nội dung công việc, xác nhận lại yêu cầu của khách hàng, ghi chú các vấn đề phát sinh và tên của các chuyên gia khác đại diện cho khách hàng. &#8211; Họ tên các luật sư sẽ tiến hành các công việc liên quan. Bạn phải đảm bảo rằng khách hàng sẽ nắm được ai là người làm các công việc hàng ngày, ai là luật sư chính và ai là luật sư phụ. &#8211; Người phải xuất hiện khi có vấn đề nảy sinh. Đó thường là một luật sư lâu năm chịu trách nhiệm về công việc đang làm hoặc cũng có thể là một luật sư lâu năm không đảm trách về công việc đang làm nhưng chịu trách nhiệm chung về quan hệ với khách hàng. &#8211; Dự toán về các khoản chi phí và các chi tiết về chi phí cũng như việc thanh toán phải được xác nhận bằng văn bản. Nếu thấy phù hợp và cần thiết thì cho khách hàng biết về tiến độ giải quyết công việc.</p>
<p style="text-align:justify;">I.3.3. Lập kế hoạch. Khi bắt tay vào công việc, bạn nên suy nghĩ về những vấn đề sau đây:</p>
<p style="text-align:justify;">- Nếu cần có sự tham gia của một luật sư từ lĩnh vực hoạt động khác, từ nhóm làm việc hay phòng ban khác trong cùng công ty luật thì hãy mời những người đó càng sớm càng tốt. Đừng nghĩ rằng một luật sư khác cùng làm sẽ gây khó khăn và sẽ phải chịu chia sẻ khoản thù lao của khách hàng. Thực ra điều đó hoàn toàn không phải như vậy. Một luật sư có kinh nghiệm trong một ngành chuyên môn nhất định sẽ hỗ trợ rất nhiều trong công việc mà luật sư đang thiếu. Hiện nay, những luật sư tư vấn Việt Nam am hiểu về các lĩnh vực hàng hải, kế toán, ngoại thương, sở hữu trí tuệ không phải lúc nào cũng có.</p>
<p style="text-align:justify;">- Nếu cần hỏi ý kiến hay xin tư vấn của luật sư hoặc chuyên gia nước ngoài thì hãy nói và giải thích điều đó cho khách hàng của mình được biết để họ có sự chuẩn bị những chi phí phải trả.</p>
<p style="text-align:justify;">- Nếu vì lý do nào đó không thể xem xét lại toàn bộ các khía cạnh của một vấn đề, hoặc phải xử lý một việc trong một khoảng thời gian rất ngắn thì phải thông báo điều này cho khách hàng và ghi lại việc thông báo đó vào sổ lưu.</p>
<p style="text-align:justify;"> - Kiểm tra những văn bản pháp luật cần tham khảo có liên quan đến việc tư vấn. Nhiều khi khách hàng là những nhà kinh doanh, họ nắm các vấn đề về nghiệp vụ kinh doanh rất kỹ, đồng thời họ cũng lưu trữ các văn bản liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh một cách có hệ thống, từ các văn bản cũ nhất đến các văn bản mới nhất. Hãy đừng ngần ngại đặt vấn đề thẳng thắn với họ để họ có thể cung cấp cho bạn bản photo copy của những văn bản đó. Tất nhiên về nguyên tắc một luật sư tư vấn giỏi cũng như một công ty luật có uy tín phải có đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của mình. &#8211; Lập cho mình một việc một hồ sơ riêng biệt. Một hồ sơ phải có một cuốn nhật ký để ghi chép về diễn biến của vụ việc. &#8211; Đứng ngần ngại khi phải thông báo cho khách hàng của bạn về kế hoạch của bạn. Trong những trường hợp mà quá trình tư vấn yêu cầu phải tiến hành ở các địa phương khác nhau bạn nên lập kế hoạch cụ thể cũng như chi phí cho kế hoạch đó và thoả thuận với khách hàng trước. &#8211; Chủ động thực hiện kế hoạch của mình đề ra, tránh tình trạng để khách hàng nhắc nhở nhiều lần mới thực hiện điều đó sẽ làm giảm uy tín của bạn.</p>
<p style="text-align:justify;"> I.3.4. Một số điểm cần lưu ý khi khách hàng của bạn là người nước ngoài Người nước ngoài thường rất thẳng thắn và ưa thích sự việc rõ ràng, sòng phẳng. Vì vậy một kế hoạch nhằm thông tin đầy đủ cho khách hàng nước ngoài cần phải được lập chi tiết để họ biết luật sư đang dẫn họ đi đâu, về đâu, họ thu được gì, phải chi phí bao nhiêu tiền bạc và vụ việc kéo dài trong bao nhiêu lâu. Một khách hàng nước ngoài thường đánh giá luật sư qua một số yếu tố sau: Luật sư được đào tạo ở đâu: Điều này không chỉ liên quan đến trình độ chuyên môn mà còn liên quan đến ngôn ngữ, thói quen và văn hoá của luật sư. Người nước ngoài thường cho rằng một người được đào tạo ở một trường đại học danh tiếng là người đáng trân trọng. Ngoài ra việc luật sư tốt nghiệp ở nước ngoài giúp sẽ giúp luật sư am hiểu về ngôn ngữ, lối sống, văn hoá của nước đó hoặc khu vực đó, châu lục đó&#8230; Chính vì thế không phải ngẫu nhiên mà các nhà doanh nghiệp Pháp hoặc các Công ty luật của Pháp chọn những luật sư Việt Nam đã học ở Pháp hoặc biết tiếng Pháp thành thạo để tư vấn giúp họ. Các nước Châu Á, thường chọn luật sư biết tiếng Anh và được đào tạo cơ bản ở các nước tư bản như Anh, Mỹ hoặc các nước trong khu vực. Kiến thức về luật thực định: Một số luật sư Việt Nam thường cho rằng họ có thể tư vấn về bất kỳ vấn đề gì. Một luật sư chuyên về hình sự nhưng sẵn sàng làm tư vấn về pháp luật kinh tế cho một công ty nước ngoài, ngược lại một luật sư chỉ biết về ngoại thương nhưng lại nhận tư vấn cho khách hàng trong một việc liên quan đến luật hình sự. Luật sư đừng bao giờ cho rằng mình nắm bắt được tất cả mọi vấn đề, hãy đi theo một vấn đề và nghiên cứu sâu lĩnh vực đó. Trước khi nhận lời với khách hàng, phải xem khách hàng yêu cầu loại dịch vụ gì rồi quyết định một cách nghiêm túc và chân thực. Bạn hãy cân nhắc các vấn đề sau đây: &#8211; Tìm hiểu xem khách hàng yêu cầu tư vấn về pháp luật Việt Nam hay pháp luật quốc tế. Nếu được nhờ xem xét lại một bản hợp đồng trước tiên bạn phải xem các quy định của luật và kiểm tra xem hợp đồng có được soạn thảo theo luật Việt Nam hay không. Nhiều hợp đồng tài chính được soạn thảo theo luật Anh hoặc Mỹ. Trong trường hợp người vay tiền là một công ty Việt Nam phải xác định xem luật Việt Nam có áp dụng hay không và chỉ nên tư vấn những vấn đề liên quan đến luật Việt Nam mà thôi. Điều này có nghĩa là bạn chỉ tư vấn xem liệu luật Anh hay luật Mỹ có phải là luật được sử dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam hay không? liệu các Tòa án Việt Nam có quyền giải thích và thi hành một văn bản pháp luật nước ngoài? nội dung của văn bản đó có trái với chính sách của Việt Nam? hoặc các vấn đề khác liên quan đến việc bên vay tiền là người Việt Nam đã có giấy phép, sự chuẩn y của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để họ có thể ký kết hợp đồng vay tiền hay chưa? &#8211; Năng lực về pháp luật còn bao gồm cả kinh nghiệm và kỹ năng của bạn.</p>
<p style="text-align:justify;"> - Nói rõ về khả năng luật sư hoặc công ty luật. Đây là hình thức giới thiệu để giúp khách hàng nước ngoài biết về luật sư một cách chính thức, bao gồm cả về quy mô, năng lực và các lĩnh vực chuyên môn mà công ty hoặc luật sư thành thạo. Tiếp cận thông tin: Khách hàng nước ngoài nhìn nhận các công ty luật Việt Nam và luật sư Việt Nam ở mối quan hệ của họ với các nhà chức trách có tốt hay không, bởi điều đó thuận lợi trong hoạt động tư vấn của bạn. Nhưng ngược lại, họ không thích luật sư quá gần gũi với nhà chức trách, vì các thông tin của luật sư dễ bị ảnh hưởng từ các nhà chức trách. Giữ thế chủ động: Luật sư sẵn sàng cung cấp tất cả các thông tin cần thiết cho khách hàng. Tìm hiểu tiến tới am hiểu công việc của khách hàng: Luật sư không làm thay các công việc của khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh của họ, nhưngluật sư phải am hiểu một cách tường tận công việc hàng ngày của khách hàng mà luật sư đang tư vấn. Trong trường hợp khách hàng vi phạm pháp luật, chống lại nhà chức trách nhưng họ cố tình không cho luật sư biết, luật sư có thể áp dụng một trong các biện pháp như thẩm tra đặc điểm của khách hàng và các công ty luật mà luật sư không rõ; đề nghị giải đáp về những yêu cầu bất thường và thảo luận về những nội dung gây lo lắng trong cuộc giao dịch với khách hàng; kiểm tra giá thực được ghi trong mọi văn bản; không làm chứng cho các tài liệu được ký sẵn từ trước và hãy thẩm tra chữ ký; nghiên cứu về công ty để xác minh tên, địa chỉ của các cán bộ và cổ đông của công ty. Tôn trọng kế hoạch mà bạn đã lập ra: Khi đã lập kế hoạch trong đó mô tả các công việc cũng như thời hạn để hoàn thành công việc đó, kế hoạch đã thỏa thuận với khách hàng thì hãy tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch đó. Hãy luôn luôn đặt khách hàng trên hết: Coi khách hàng là thượng đế, nhìn nhận mọi vấn đề từ quan điểm của khách hàng, hãy phục vụ khách hàng để đáp ứng các yêu cầu của họ, tránh các cuộc tranh luận về mặt học thuật mà nên giải thích vấn đề một cách thực tế. Một số vấn đề khác trong hoạt động tư vấn: Đối với khách hàng, luật sư hãy:</p>
<p style="text-align:justify;"> - Tỏ ra là người có đầu óc kinh doanh và thực tế, trả lời các câu hỏi cụ thể chứ không phải những câu hỏi mà luật sư thích trả lời cho khách hàng. &#8211; Đưa ra lời tư vấn tích cực, chủ động, nắm bắt đúng thời cơ và vì lợi ích của khách hàng. &#8211; Cư xử lịch thiệp và tỏ ra có hứng thú khi thực hiện tư vấn giúp khách hàng; &#8211; Luôn là người tận tụy với công việc, phúc đáp kịp thời các bức thư, bức điện, fax và bảo đảm rằng khách hàng lúc nào cũng có thể tìm đến luật sư nếu cần &#8211; Một trong những điểm khách hàng nước ngoài hay để ý là tên và địa chỉ của họ có được sử dụng đúng hay không, đừng bao giờ viết sai tên của khách hàng mình. Việc soạn thảo các thư từ giao dịch cũng phải được chú trọng đến truyền thống và văn hóa của nước mà khách hàng của bạn mang quốc tịch. Trách nhiệm giữ gìn bí mật đối với các thông tin của khách hàng: Luật sư phải chịu trách nhiệm giữ kín mọi thông tin cho khách hàng. Điều này áp dụng cả trường hợp khách hàng chết. I.3.5. Quan hệ với các bên thứ ba Luật sư tư vấn không được lừa dối, thiếu trung thực hoặc trái với địa vị của luật sư tư vấn, cũng không được lợi dụng địa vị của mình để làm lợi cho mình hoặc cho người khác. Những bức thư xúc phạm mà một luật sư tư vấn viết cho một bên thứ ba có thể làm mất danh tiếng nghề luật và hành vi như vậy bị coi là không phù hợp với đạo đức. Nếu luật sư tư vấn cho rằng tiêu chuẩn đạo đức của một luật sư tư vấn khác không tốt, luật sư phải thông báo cho Đoàn luật sư hoặc công ty luật biết sau khi được khách hàng của luật sư đó đồng ý. Trong trường hợp luật sư tư vấn không thể thay mặt khách hàng của mình tham gia tranh tụng trước tòa có thể tìm đến dịch vụ của các luật sư bào chữa để đại diện cho khách hàng trước tòa. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các luật sư nước ngoài không được phép tư vấn pháp luật Việt Nam, vì vậy họ phải chọn các công ty luật hoặc luật sư Việt Nam để làm việc cho họ. Thông thường các khách hàng quốc tế sẽ yêu cầu Hãng luật nước ngoài soạn thảo các hợp đồng phù hợp với luật pháp quốc tế bởi vì họ đã có kinh nghiệm. Sau đó họ sẽ yêu cầu các luật sư Việt Nam tư vấn về pháp luật Việt Nam và sửa đổi văn bản cho phù hợp với pháp luật Việt Nam. Một công ty luật hoặc một luật sư Việt Nam hoạt động có hiệu quả phải có khả năng hợp tác với các luật sư quốc tế bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Khi tư vấn về pháp luật Việt Nam cho khách hàng nước ngoài thông qua các công ty luật nước ngoài ở Việt Nam, các luật sư Việt Nam phải nêu tên các tài liệu tham khảo để luật sư nước ngoài tham khảo thêm và thẩm tra lại. Ngoài ra việc tư vấn cho khách hàng nước ngoài, các luật sư Việt Nam cần có thao tác nghề nghiệp nhanh chóng. Khi làm việc với khách hàng nước ngoài, luật sư Việt Nam nên hướng theo ba góc độ như sau: &#8211; Tư vấn về khía cạnh luật pháp. &#8211; Tư vấn điều gì sẽ xảy ra trong thực tiễn dựa vào kinh nghiệm bản thân cũng như qua trao đổi với các cơ quan hữu quan.</p>
<p style="text-align:justify;">- Cuối cùng, giữ liên hệ với các cơ quan có liên quan đến việc thông qua và cấp giấy phép.</p>
<p style="text-align:justify;">I.4. Một số kỹ năng văn phòng</p>
<p style="text-align:justify;"> I.4.1. Giữ bí mật thông tin Một luật sư tư vấn có thể cung cấp cho khách hàng những lời khuyên tốt nhất và chính xác nhất, luật sư phải có cơ hội được trao đổi một cách thoải mái với khách hàng về tất cả những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Vì vậy, một số hình thức thông tin nhất định giữa luật sư với khách hàng hoặc với người thứ ba được coi là bí mật.</p>
<p style="text-align:justify;">I.4.2. Giữ gìn an toàn các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu và các giấy tờ khác. Trong trường hợp cần phải lưu giữ các văn bản giấy tờ gốc của đương sự luật sư phải thực sự thận trọng. Chỉ giữ các giấy tờ đó khi bắt buộc phải có nó để xuất trình cho cơ quan chức năng, sau khi hoàn thành công việc đó nên bàn giao lại cho khách hàng và yêu cầu khách hàng sao công chứng để lúc cần có thể sử dụng. I.4.3. Quản lý và bảo quản hồ sơ Việc quản lý hồ sơ phần lớn do luật sư lo liệu. Vì vậy, khi chuẩn bị hồ sơ bạn nên có một cặp riêng để lưu giữ hồ sơ cho vụ việc mà luật sư đang làm. Nên chọn mầu sắc cho từng cặp hồ sơ để dễ dàng phân biệt hồ sơ đang làm với hồ sơ đã làm và hồ sơ chuẩn bị làm. Trước khi bắt tay vào thụ lý một hồ sơ, luật sư phải lập một kế hoạch. Trong kế hoạch đó bao gồm cả những văn bản tài liệu, văn bản pháp luật cần phải có trong quá trình làm. Các văn bản phải được cập nhật theo đúng kế hoạch. Khi đã có trong tay bộ hồ sơ thì phải bảo quản. Giữ lại các giấy tờ ghi chép các cuộc trao đổi với khách hàng, với các cơ quan liên quan, với những người khác. Các bức thư, bức điện&#8230; gửi đi và nhận cần được lưu giữ. II. KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT II. 1. Tư vấn trực tiếp bằng miệng Qua thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật cho thấy hình thức tư vấn bằng miệng là hình thức phổ biến. Với các vụ việc có tính chất đơn giản, các khách hàng Việt Nam thường gặp gỡ luật sư để tìm hiểu bản chất pháp lý của vụ việc trên cơ sở đó giúp họ tìm giải pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách nhanh chóng, có hiệu quả. Tuy vậy, hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp đòi hỏi một quá trình lao động trí óc. Vì vậy khi tư vấn trực tiếp bằng miệng cho khách hàng, luật sư tư vấn cần thiết phải tôn trọng một quy trình sau đây: &#8211; Luật sư phải lắng nghe khách hàng trình bày và ghi chép đầy đủ nội dung chính, ý chính, trên cơ sở đó đặt câu hỏi để làm rõ thêm. Thông thường, lần đầu tiên tiếp xúc, luật sư chưa thể nắm bắt một cách chắc chắn bản chất của sự việc đó hơn nữa, khách hàng thường trình bày theo ý chủ quan và bỏ qua nhiều chi tiết mà họ cho là không cần thiết. Vì vậy, luật sư cần gợi ý những vấn đề để khách hàng trình bày đúng bản chất của vụ việc. Luật sư tư vấn nên lưu ý khách hàng, chỉ có thể đưa ra giải pháp chính xác, đầy đủ và đúng pháp luật nếu khách hàng trình bày vấn đề trung thực và khách quan. &#8211; Yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến việc cần tư vấn. Những giấy tờ tài liệu này phản ánh diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc bản chất của vụ việc mà khách hàng yêu cầu tư vấn. Nếu không có những tài liệu này, việc tư vấn có thể sẽ không chính xác. Sau khi khách hàng cung cấp đầy đủ các văn bản giấy tờ, tài liệu có liên quan, luật sư phải dành thời gian để đọc các giấy tờ tài liệu đó. Đối với các tài liệu bằng tiếng nước ngoài nhất thiết phải được dịch ra tiếng Việt để hiểu đúng nguyên văn tài liệu đó, đồng thời cũng dùng đính kèm hồ sơ để sử dụng lâu dài. Trong trường hợp sau khi nghe khách hàng trình bày và nghiên cứu các tài liệu do khách hàng cung cấp mà thấy không thể trả lời ngay được, phải thông báo điều đó cho khách hàng và hẹn khách hàng gặp vào một ngày khác.</p>
<p style="text-align:justify;"> - Tra cứu tài liệu tham khảo. Việc dùng các quy định của pháp luật để làm cơ sở cho các kết luận của mình là điều bắt buộc. Trong nhiều trường hợp khách hàng biết họ đúng họ không giải thích được và yêu cầu luật sư phải cung cấp cho họ cơ sở pháp luật để khẳng định yêu cầu của họ. Đối với luật sư tư vấn việc tra cứu tài liệu tham khảo là điều bắt buộc bởi vì: Thứ nhất, để khẳng định với khách hàng rằng luật sư đang tư vấn theo luật chứ không phải theo cảm tính chủ quan của mình. Thứ hai, tra cứu tài liệu tham khảo giúp luật sư khẳng định chính những suy nghĩ của mình.</p>
<p style="text-align:justify;">- Định hướng cho khách hàng. Về thực chất là việc đưa ra giải pháp bằng miệng cho khách hàng để trả lời các vấn đề mà khách hàng yêu cầu. Tuy vậy có thể sau khi luật sư đã đưa ra định hướng nhưng khách hàng không thực hiện những bước tiếp theo. Một trong những nguyên tắc khi tiến hành tư vấn cho khách hàng là luật sư phải thể hiện thái độ trung thực, phân tích các vấn đề trên cơ sở pháp lý và luôn đứng về phía khách hàng của mình. Thái độ thiên vị, thiếu cơ sở pháp luật của luật sư có thể tác động đến khách hàng khiến họ thiếu tin tưởng vào luật sư. Trong quá trình tư vấn, luật sư có thể kết hợp làm công tác của người hoà giải, giúp hai bên đương sự hoà giải, thoả thuận với nhau để tìm một giải pháp thoả đáng. Tuy nhiên, trong trường hợp hoà giải, luật sư phải cho khách hàng biết bản chất của vấn đề, tức là nếu đưa vụ án ra xét xử tại Toà án hoặc trọng tài họ sẽ được lợi gì và nếu tự hoà giải họ cũng sẽ được lợi gì. II.2. Tư vấn bằng văn bản Việc tư vấn bằng văn bản thông thường được tiến hành với những lý do sau: &#8211; Khách hàng ở xa, không trực tiếp đến gặp luật sư.</p>
<p style="text-align:justify;">- Khách hàng là người nước ngoài muốn khẳng định độ tin cậy của giải pháp thông qua việc đề ra các câu hỏi để luật sư tư vấn trả lời bằng văn bản. &#8211; Kết quả tư vấn bằng văn bản có thể được khách hàng sử dụng để phục vụ cho mục đích của họ. Theo yêu cầu của khách hàng việc tư vấn bằng văn bản có thể được thực hiện theo hai hình thức: Khách hàng viết đơn, thư, chuyển fax và khách hàng trực tiếp đến gặp luật sư tư vấn và đề nghị tư vấn bằng văn bản. Khi thực hiện tư vấn bằng văn bản thông thường hai bên (luật sư và khách hàng) phải ký hợp đồng tư vấn pháp luật với nhau. Theo quy định tại Điều 26 Luật Luật sư thì luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý và hợp đồng này phải được làm thành văn bản và có những nội dung chính sau đây: &#8211; Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; &#8211; Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng; &#8211; Quyền, nghĩa vụ của các bên; &#8211; Phương thức tính và thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có); &#8211; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; &#8211; Phương thức giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp một bên yêu cầu thì hợp đồng phải được công chứng. Nhìn chung, khác với tư vấn trực tiếp bằng miệng, tư vấn bằng văn bản tạo cơ hội cho luật sư thâm nhập hồ sơ kỹ càng và chính xác hơn, vì thế có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho khách hàng. Tuy vậy tư vấn bằng văn bản yêu cầu luật sư phải làm việc cẩn thận hơn, chu đáo và văn bản tư vấn đưa ra phải có độ chính xác, có cơ sở khoa học và đúng pháp luật. Cũng như việc tư vấn bằng miệng, việc tư vấn bằng văn bản yêu cầu phải quán triệt các bước sau đây:</p>
<p style="text-align:justify;"> - Nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng. &#8211; Trao đổi với khách hàng về yêu cầu của họ để khẳng định trong một số trường hợp cần thiết. &#8211; Tra cứu các tài liệu văn bản pháp luật có liên quan để phục vụ cho việc tư vấn. &#8211; Soạn văn bản trả lời cho khách hàng. II.3. Kết hợp hình thức tư vấn bằng miệng, tư vấn bằng văn bản và bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước toà. Theo Điều 23 Luật Luật sư, luật sư hành nghề dưới hai hình thức: cá nhân hoặc trong tổ chức hành nghề luật sư (bao gồm văn phòng luật sư, công ty luật &#8211; khoản 1 Điều 32 Luật Luật sư). So với Pháp lệnh luật sư thì hình thức hành nghề luật sư được mở rộng, đó là được phép hành nghề với tư cách cá nhân. Tổ chức hành nghề luật sư hay cá nhân hành nghề luật sư đều có quyền , nghĩa vụ của luật sư trong từng lĩnh vực hoạt động bao gồm cả hoạt động tham gia tố tụng, hoạt động đại diện ngoài tố tụng, hoạt động tư vấn pháp luật và các hoạt động dịch vụ pháp lý khác. II.4. Thu thập, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ trong hoạt động tư vấn Trong hoạt động tư vấn pháp luật, quá trình thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ sau đó đưa ra một giải pháp cho khách hàng là quá trình diễn ra nhanh chóng và đòi hỏi độ chính xác, độ tin cậy cao. Khi nghe khách hàng trình bày, luật sư yêu cầu khách hàng của mình làm rõ những vấn đề cần quan tâm, yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu, đó là luật sư đang thu thập chứng cứ. Song song với hoạt động thu thập chứng cứ, luật sư nghiên cứu chứng cứ. Trong trường hợp tư vấn bằng miệng, luật sư vừa thu thập chứng cứ vừa nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Đây là một quá trình kết hợp nhuần nhuyễn thông qua hoạt động tư duy của con người để nhanh chóng tìm ra được giải pháp tối ưu trong thời gian nhanh nhất. Trong quá trình nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, luật sư tư vấn cần sử dụng nhiều biện pháp khác nhau và kết hợp thành một quá trình logic để đưa ra một hoặc nhiều kết luận. Tất nhiên quá trình nghiên cứu và đánh giá chứng cứ không phải lúc nào cũng xẩy ra trong hoạt động tư vấn. Có nhiều trường hợp khách hàng hỏi về những thủ tục mà đấy là một phần chuyên môn của luật sư. Có khi chỉ cần kiểm tra lại các dữ liệu để phân biệt giúp khách hàng hoàn thành thủ tục mà họ yêu cầu. Trong phần lớn các yêu cầu tư vấn của khách hàng đều yêu cầu trả lời chi tiết và lý giải tại sao, vì vậy, luật sư tư vấn phải đưa ra các luận cứ sắc bén, có sức thuyết phục để trả lời khách hàng của mình.</p>
<p style="text-align:justify;">theo diendanphapluat.vn</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/262/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/262/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=262&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/29/nh%e1%bb%afng-di%e1%bb%81u-c%e1%ba%a7n-quan-tam-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-khi-ti%e1%ba%bfp-xuc-v%e1%bb%9bi-khach-hang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Bộ luật Hình sự sửa đổi: Nhiều người thoát tội, thoát chết</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/28/b%e1%bb%99-lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1-s%e1%bb%ada-d%e1%bb%95i-nhi%e1%bb%81u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-thoat-t%e1%bb%99i-thoat-ch%e1%ba%bft/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/28/b%e1%bb%99-lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1-s%e1%bb%ada-d%e1%bb%95i-nhi%e1%bb%81u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-thoat-t%e1%bb%99i-thoat-ch%e1%ba%bft/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 28 Jul 2009 02:24:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=257</guid>
		<description><![CDATA[Theo BLHS sửa đổi, người sử dụng trái phép chất ma túy được xem như nạn nhân chứ không phải tội phạm. Trong ảnh: Học viên cai nghiện đang học nghề tại Trung tâm Nhị Xuân. Ảnh: HTD Không phải đợi đến đầu năm sau mà ngay từ bây giờ sẽ có tử tù thoát [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=257&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align:justify;">Theo BLHS sửa đổi, người sử dụng trái phép chất ma túy được xem như nạn nhân chứ không phải tội phạm. Trong ảnh: Học viên cai nghiện đang học nghề tại Trung tâm Nhị Xuân. Ảnh: HTD</div>
<div style="text-align:justify;">
<p align="justify">Không phải đợi đến đầu năm sau mà ngay từ bây giờ sẽ có tử tù thoát án tử hình, nhiều bị can, bị cáo được trả tự do.</p>
</div>
<div style="text-align:justify;">
<p align="justify">Tin vui cho rất nhiều bị can, bị cáo, bị án là sắp tới họ sẽ được đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhờ Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (gọi tắt là BLHS sửa đổi, <em>Pháp Luật TP.HCM</em> ngày 21-7 đã thông tin).</p>
<p align="justify">Ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP.HCM, đại biểu Quốc hội, khẳng định trong BLHS sửa đổi và Nghị quyết 33 của Quốc hội về thi hành luật này nói rõ các điều luật có lợi cho bị can, bị cáo, bị án sẽ áp dụng ngay sau khi Chủ tịch nước công bố luật chứ không phải đợi đến đầu năm 2010 (ngày BLHS sửa đổi có hiệu lực). Ngày 29-6, Chủ tịch nước ký lệnh công bố BLHS sửa đổi đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều người phạm tội được trả tự do, được thoát án tử hình&#8230; ngay chứ không chờ đến thời hạn 1-1-2010.</p>
<p align="justify"><strong>Tử hình còn chung thân </strong></p>
<p align="justify"><em>. Việc áp dụng các điều khoản có lợi trong BLHS sửa đổi đối với các tội danh được bỏ án tử hình ra sao, thưa ông? </em></p>
<p align="justify"><strong><img src="http://www.phapluattp.vn/img/22-07-2009/6-buihoangdanh.jpg" border="1" alt="" hspace="2" vspace="2" width="85" height="116" align="left" />+ Ông Bùi Hoàng Danh:</strong> Quốc hội đã bỏ án tử hình đối với tám loại tội. Như vậy, kể từ đầu tháng 7-2009 (sau khi Chủ tịch nước công bố luật), mức án cao nhất của tám loại tội này chỉ đến chung thân mà thôi, các cơ quan tố tụng sẽ không áp dụng hình phạt tử hình với họ nữa. Trường hợp tòa đã tuyên án tử hình với tám loại tội này mà chưa thi hành, chánh án TAND tối cao sẽ chuyển hình phạt tử hình xuống chung thân cho họ. Nói cách khác, bị án nào thuộc diện nêu trên mà chưa bị thi hành án thì sẽ thoát chết. Đây là nguyên tắc áp dụng có lợi cho người phạm tội.</p>
<p align="justify">Tội phạm thành nạn nhân</p>
<p align="justify"><em>. Luật mới không xem người sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm nữa. Các cơ quan tố tụng sẽ xử lý những người đã lỡ sử dụng ma túy bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án như thế nào? </em></p>
<p align="justify">+ Trước đây, chúng ta xử lý hình sự người sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không nhiều nhưng đây là cách nhìn chưa chuẩn. Vì thế, trong lần sửa đổi này, chúng ta xem họ là nạn nhân chứ không phải tội phạm nên không xử lý hình sự nữa. Đây là cách nhìn nhân đạo của luật mới.</p>
<p align="justify">Với tinh thần của Nghị quyết 33, kể từ sau ngày 29-6, các cơ quan tố tụng sẽ không xử lý hình sự người sử dụng trái phép chất ma túy (có thể áp dụng biện pháp khác như đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục&#8230;). Trường hợp vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang tạm đình chỉ thi hành án thì họ được miễn chấp hành hình phạt còn lại, nếu chưa chấp hành hình phạt sẽ được miễn chấp hành. Nếu ai đó bị cơ quan tố tụng bắt chỉ vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì họ sẽ được trả tự do, xóa án tích. Và cần khẳng định là những trường hợp được trả tự do nói trên là do chuyển biến của tình hình chứ không phải họ bị oan.</p>
<p align="justify"><strong>Trộm cắp vặt lần đầu sẽ được tha </strong></p>
<p align="center"><img src="http://www.phapluattp.vn/img/22-07-2009/6-box.jpg" border="0" alt="" hspace="2" vspace="2" width="366" height="181" align="center" /></p>
<p align="justify"><em>. Luật mới cũng nâng mức định lượng tiền một số tội liên quan đến tài sản. Nếu ai đó có hành vi phạm tội mà định lượng này chưa đủ theo luật mới sẽ giải quyết như thế nào? <span id="more-257"></span></em></p>
<p align="justify">+ Trong luật mới có đến 15 loại tội liên quan đến định lượng tiền đã được sửa đổi theo hướng nâng lên nhiều lần. Ví dụ: Với các tội trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa đảo, tham ô, lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản&#8230;, trước đây chỉ chiếm đoạt tài sản 500 ngàn đồng là có thể bị xử lý hình sự, nay BLHS sửa đổi yêu cầu phải là hai triệu đồng trở lên. Như vậy, nếu ai đó đang bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo các tội trên mà tài sản chiếm đoạt chưa tới hai triệu đồng sẽ được trả tự do.</p>
<p align="justify">Cần lưu ý là bên cạnh yếu tố định lượng hai triệu đồng còn có các yếu tố định tội khác như gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Nếu có một trong các yếu tố đó thì dù có chiếm đoạt dưới hai triệu đồng vẫn bị xử lý hình sự chứ không được trả tự do theo luật mới.</p>
<p align="justify">Ngoài ra, luật mới cũng nâng định lượng tiền lên bốn triệu đồng, 10 triệu đồng, 100 triệu đồng tương ứng cho các loại tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, trốn thuế (các điều 140, 141, 161 BLHS)&#8230; và họ cũng được áp dụng theo hướng có lợi là trả tự do, xóa án tích.</p>
<p align="justify"><em>. Vậy khi nào TAND TP.HCM thi hành các điều khoản có lợi trên cho bị cáo? Có ai được trả tự do chưa? </em></p>
<p align="justify">+ Ngay sau khi tham dự phiên họp của Quốc hội thông qua BLHS sửa đổi và Nghị quyết 33, từ Hà Nội tôi đã chỉ đạo các bộ phận ở TAND TP.HCM phải chủ động rà soát các trường hợp thuộc diện được trả tự do theo thẩm quyền của tòa mình. Tuy nhiên, các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng chủ yếu thuộc thẩm quyền xét xử ở cấp huyện. Do các đơn vị chưa có báo cáo chính xác và cũng chưa có con số cụ thể nên đến ngày 21-7 chưa có ai được trả tự do theo hướng có lợi của luật mới.</p>
<p align="justify"><em>. Xin cám ơn ông.</em></p>
<p style="text-align:justify;">VI TRẦN- Pháp luật TP HCM Online</p>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/257/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/257/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=257&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/28/b%e1%bb%99-lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1-s%e1%bb%ada-d%e1%bb%95i-nhi%e1%bb%81u-ng%c6%b0%e1%bb%9di-thoat-t%e1%bb%99i-thoat-ch%e1%ba%bft/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://www.phapluattp.vn/img/22-07-2009/6-buihoangdanh.jpg" medium="image" />

		<media:content url="http://www.phapluattp.vn/img/22-07-2009/6-box.jpg" medium="image" />
	</item>
		<item>
		<title>Hình phạt về tội quấy rối tình dục ở một số nước</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/28/hinh-ph%e1%ba%a1t-v%e1%bb%81-t%e1%bb%99i-qu%e1%ba%a5y-r%e1%bb%91i-tinh-d%e1%bb%a5c-%e1%bb%9f-m%e1%bb%99t-s%e1%bb%91-n%c6%b0%e1%bb%9bc/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/28/hinh-ph%e1%ba%a1t-v%e1%bb%81-t%e1%bb%99i-qu%e1%ba%a5y-r%e1%bb%91i-tinh-d%e1%bb%a5c-%e1%bb%9f-m%e1%bb%99t-s%e1%bb%91-n%c6%b0%e1%bb%9bc/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 28 Jul 2009 02:09:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=254</guid>
		<description><![CDATA[Mỹ là một trong những nước đầu tiên ban hành luật về quấy rối tình dục. Người có hành vi tán tỉnh dai như đỉa trong khi đối tượng không đồng ý; dùng lời lẽ dâm ô với người đồng giới; đề cập đến chuyện phòng the đến nỗi đồng nghiệp bị phân tâm không [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=254&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<table id="vne_main" style="text-align:justify;" border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><em>Mỹ là một trong những nước đầu tiên ban hành luật về quấy rối tình dục. Người có hành vi tán tỉnh dai như đỉa trong khi đối tượng không đồng ý; dùng lời lẽ dâm ô với người đồng giới; đề cập đến chuyện phòng the đến nỗi đồng nghiệp bị phân tâm không làm việc được… đều có thể phải ra tòa. Mức bồi thường thiệt hại tối đa là 300.000 USD.</em></p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="3" width="108" align="right" bgcolor="#e8f8ff">
<tbody>
<tr>
<td>Một câu chuyện đùa về tình dục nếu cứ lặp đi lặp lại và gây khó chịu cho người khác giới khiến môi trường làm việc trở nên không thân thiện thì đó là hành vi quấy rối tình dục.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Theo đạo luật Quyền công dân Liên bang năm 1964 của Mỹ, quấy rối tình dục là một trong các hình thức phân biệt giới tính. Ủy ban Cơ hội việc làm công bằng liên bang định nghĩa: Quấy rối tình dục là thực hiện các hình vi như dùng lời ve vãn tình dục, yêu cầu quan hệ tình dục trái ý muốn của người khác, dùng cử chỉ, lời nói gợi ý về tình dục mà thái độ phục tùng hay phản đối của cá nhân được gợi ý có liên quan đến quyền lợi, công việc, môi trường lao động của cá nhân đó.</p>
<p>Tòa án Mỹ đã liệt kê cụ thể các hành vi quấy rối tình dục: lời nói ám chỉ đến tình dục lặp đi lặp lại nhiều lần, lời nói đùa khiêu dâm, lời bình luận hay cách ăn nói dâm dục; thư từ, và hình vẽ mang tính chất gọi dục; lời đề nghị quan hệ tình dục hoặc lời hăm dọa liên tục gây phiền hà người khác; trưng bày tranh ảnh, lịch khiêu dâm hay tài liệu tình dục ở nơi làm việc; các hành vi gây phiền hà hay ép buộc mang tính chất gợi dục như sờ mó, vỗ nhẹ, đụng chạm, véo, hôn hít, vuốt ve; gây sức ép công khai hay có ẩn ý đòi quan hệ tình dục, ép buộc quan hệ tình dục.</p>
<p><strong><span style="color:#5f5f5f;">Các hành vi bị coi là quấy rối tình dục ở Mỹ</span></strong></p>
<p>Hai vấn đề mấu chốt để xác định tội quấy rối tình dục là thái độ của nạn nhân bị quấy rối tình dục và tính chất gợi dục của hành vi quấy rối. Một người chỉ bị buộc tội quấy rối tình dục khi hành vi quấy rối gây phiền hà cho người bị quấy rối, và khi nạn nhân đồng tình chỉ vì muốn khỏi bị đối xử tệ trong công việc (chịu quấy rối tình dục để khỏi bị mất việc).</p>
<p>Có hai dạng quấy rối tình dục: <strong><span style="color:#5f5f5f;"><em>Quấy rối tình dục có điều kiện trao đổi</em></span></strong>, tức là người sử dụng hoặc quản lý lao động căn cứ phản ứng của người lao động đối với hành vi quấy rối tình dục để nâng đỡ hoặc trù úm trong công việc. <span style="color:#5f5f5f;"><strong><em>Quấy rối tình dục trong môi trường làm việc không thân thiện</em>,</strong></span> <span style="color:#000000;">môi trường</span> làm việc được xem như không thân thiện khi hành vi quấy rối tình dục trở nên phổ biến, lặp đi lặp lại và nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến công việc của người bị quấy rối. Trong những trường hợp nêu trên, nạn nhân có thể kiện ra tòa và phải chứng minh bị tổn thương. Nhưng không cần chứng minh cụ thể hành vi quấy rối tình dục vì trong thực tế, người quấy rối tình dục thường nói bóng gió, ít khi nói thẳng hoặc ngụy biện, lấp liếm hành vi quấy rối tình dục.<span id="more-254"></span></p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="3" width="159" align="left" bgcolor="#f2f9ff">
<tbody>
<tr>
<td>Tòa án Mỹ quy định:</p>
<p>- Cư xử thân thiện là hành vi vi giao tiếp tự phát sinh và tự nhiên giữa các cá nhân quan tâm lẫn nhau. Trong đó bao gồm các hành vi đụng chạm, vỗ vai hay ôm nhau mà các bên đều bằng lòng tiếp nhận.</p>
<p>- Tán tỉnh là cách cư xử tự nhiên giữa các cá nhân đang quyến rũ nhau. Hai bên đều sẵn lòng tiếp nhận và hành vi tán tỉnh không gây ảnh hưởng tiêu cực đến công việc. Tán tỉnh sẽ trở thành hành vi quấy rối tình dục nếu một phía không tiếp nhận hoặc gây ảnh hưởng đến công việc.</p>
<p>- Nói đùa liên quan đến tình dục có thể tạo ra môi trường làm việc không thân thiện nếu hành vi này diễn ra thường xuyên, gây khó chịu cho người khác và tác động xấu đến công việc.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><span style="color:#5f5f5f;">Thiên vị trong công việc cũng là một hình thức quấy rối tình dục, khi chủ lao động chỉ tạo đặc quyền đặc lợi cho nhân viên nào chấp nhận các vi quấy rối tình dục. Trong trường hợp này, nạn nhân không nhất thiết phải là người trực tiếp bị quấy rối tình dục mà chỉ có thể là người bị thiệt thòi trong công việc vì thái độ thiên vị này. Trong công việc hằng ngày, các nhân viên có thể đùa bỡn, nói chuyện tếu với nhau và hành vi này được xem là hành vi giao tiếp xã hội. Tuy nhiên, khi chuyện đùa ám chỉ đến tình dục khiến người nghe cảm thấy bị xúc phạm, bị phiền hà, người khởi xướng chuyện đùa có thể bị buộc tội quấy rối tình dục. Hoặc khi một người nào đó tán tỉnh hoặc nói chuyện tếu và xem đó là trò đùa vô hại nhưng người khác lại nghĩ bị xỉ nhục, bị mất phẩm giá thì đó cũng là hành vi quấy rối tình dục. Thật ra <strong><span style="color:#5f5f5f;">hành vi tán tỉnh, chọc ghẹo và hành vi quấy rối tình dục khác nhau ở thái độ người tiếp nhận hành vi này</span></strong>. Một câu chuyện đùa về tình dục không phải là hành vi quấy rối tình dục. Nhưng nếu cứ lặp đi lặp lại nhiều lần và gây khó chịu cho người khác khiến môi trường làm việc trở nên không thân thiện thì đó lại là hành vi quấy rối tình dục.</span></strong></p>
<p>Đạo luật quyền công dân liên bang của Mỹ cho phép nạn nhân bị quấy rối tình dục yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về các khoản tiền lương, tiền phúc lợi bị mất, chi phí thuê luật sư, chi phí trả cho giám định viên, chi phí điều trị y tế. Tiền bồi thường thiệt hại hạn chế ở mức tối đa 300.000 USD. Nạn nhân cũng có thể kiện đòi bồi thường thiệt hại theo các quy định dân sự, liên quan đến bồi thường danh dự, bồi thường thiệt hại tinh thần. Chủ doanh nghiệp, cơ quan cũng có thể bị quy trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng quấy rối tình dục trong các trường hợp sau: hành vi quấy rối tình dục liên quan đến công việc, hành vi quấy rối tình dục không thuộc phạm vi công việc nhưng người chủ không có biện pháp khắc phục, chủ lao động tiếp tục sử dụng một nhân viên trong khi đã biết người này có tật xấu quấy rối tình dục người khác.</p>
<p>Ngoài ra, nạn nhân còn có thể đòi bồi thường về các tội như sau: tội hành hung hay bạo hành nếu người quấy rối tình dục gây thương tích cho nạn nhân trong khi đụng chạm, vuốt ve…; tội phỉ báng nếu người quấy rối tình dục dùng lời lẽ phỉ báng làm mất danh dự nạn nhân; tội xâm phạm đời tư nếu người quấy rối tình dục xâm phạm đời tư cá nhân; tội làm tổn hại đến công việc người khác nếu người quấy rối tình dục cố ý sử dụng các hành vi quấy rối để gây thiệt hại đến công việc của nạn nhân.</p>
<p><strong><span style="color:#5f5f5f;">Hình phạt tù về tội quấy rối tình dục ở một số nước</span></strong></p>
<p><span style="color:#5f5f5f;"><span style="color:#000000;">T</span><span style="color:#000000;">ại</span></span> Malaysia: Bất kỳ ai xúc phạm phẩm giá phụ nữ bằng lời lẽ cử chỉ hay phô bày đồ vật với ý định để người phụ nữ đó nghe và thấy lời nói, cử chỉ hay đồ vật này sẽ bị phạt tù mức cao nhất là 5 năm hoặc bị phạt tiền hoặc cả hai.</p>
<p>Ấn Độ: Cũng có quy định tương tự nhưng mức phạt tù cao nhất là một năm.</p>
<p>Pháp: Người nào lạm dụng quyền lực đe dọa, ép buộc người khác quan hệ tình dục sẽ bị buộc tội quấy rối tình dục, và bị phạt tù không quá 1 năm và phạt tiền.</p>
<p>Iceland: Người nào dùng quyền lực trong công việc để ép cấp dưới quan hệ tình dục sẽ bị phạt tù cao nhất đến 3 năm. Các hình thức quấy rối tình dục khác có án phạt tù mức cao nhất 2 năm.</p>
<p>Philippines: Người có hành vi quấy rối tình dục sẽ bị phạt tù từ 1 đến 6 tháng; hoặc bị phạt 200-400 USD, hay cả hai.</p>
<p align="right">(Theo <em>Pháp Luật TP HCM</em>)</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td align="right">
<div>Việt Báo (Theo_VnExpress.net)</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/254/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/254/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=254&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/28/hinh-ph%e1%ba%a1t-v%e1%bb%81-t%e1%bb%99i-qu%e1%ba%a5y-r%e1%bb%91i-tinh-d%e1%bb%a5c-%e1%bb%9f-m%e1%bb%99t-s%e1%bb%91-n%c6%b0%e1%bb%9bc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Lưu ý gì khi thương thảo với doanh nhân Mỹ?</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/13/l%c6%b0u-y-gi-khi-th%c6%b0%c6%a1ng-th%e1%ba%a3o-v%e1%bb%9bi-doanh-nhan-m%e1%bb%b9/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/13/l%c6%b0u-y-gi-khi-th%c6%b0%c6%a1ng-th%e1%ba%a3o-v%e1%bb%9bi-doanh-nhan-m%e1%bb%b9/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 13 Jul 2009 04:47:05 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=250</guid>
		<description><![CDATA[Với chủ đề “Những lỗi nghiêm trọng người Việt Nam thường gặp khi tiếp đãi người Mỹ”, cuộc hội thảo diễn ra vào ngày 7/11 tại Trung tâm Giáo dục &#8211; Đào tạo và Hội thảo quốc tế FideS, có rất nhiều vấn đề về cung cách giao tiếp với doanh nhân Mỹ đã được [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=250&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="overflow:hidden;text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;">Với chủ đề “Những lỗi nghiêm trọng người Việt Nam thường gặp khi tiếp đãi người Mỹ”, cuộc hội thảo diễn ra vào ngày 7/11 tại Trung tâm Giáo dục &#8211; Đào tạo và Hội thảo quốc tế FideS, có rất nhiều vấn đề về cung cách giao tiếp với doanh nhân Mỹ đã được đặt ra.<br />
</span></strong><br />
Theo đó, đôi lúc những sai lầm nhỏ vẫn có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng mà ít người nghĩ đến.</p>
<p style="text-align:justify;">Người chủ trì hội thảo lần này là GS. David F. Day &#8211; một luật sư, giảng viên quốc tế giàu kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt trong việc đào tạo những nhà lãnh đạo, quản lý của Việt Nam hơn một thập niên qua, từ các chương trình MBA tại Hà Nội và Tp.HCM đến các buổi đào tạo chuyên sâu do Phòng Thương mại Hoa Kỳ và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam tài trợ.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo ông, hầu hết những sai lầm của người Việt trong giao tiếp kinh doanh với người Mỹ đều xuất phát từ các thói quen rất đỗi bình thường, thậm chí còn được xem là những nét văn hóa đẹp. Vì vậy, cần có sự nhìn nhận rõ ràng giữa điều thích làm và điều nên làm để tránh gặp rắc rối với các doanh nhân Mỹ, những người được đánh giá là rất thực tế và mau lẹ trong chuyện làm ăn.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>Bản ghi nhớ, cần hay không?</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Không khí chia sẻ kinh nghiệm cởi mở giữa GS. David Day và các doanh nhân tại buổi hội thảo</p>
<p style="text-align:justify;">Với người Việt, các thương lượng đôi khi không dựa trên hợp đồng mà bằng cách tạo dựng các mối quan hệ, từ đó phát triển sự tin tưởng để làm ăn. Đa phần doanh nhân Việt chọn cách ký một bản ghi nhớ trước khi có được hợp đồng, bởi họ cần nhiều thời gian để xây dựng mối quan hệ. Riêng với người Mỹ, cái gọi là “bản ghi nhớ” không mấy có giá trị, bởi theo quan điểm của họ, tất cả các cuộc thương lượng phải được thể hiện bằng hợp đồng.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo GS. David F. Day, nước Mỹ luôn xem trọng văn bản và từ ngữ. Ở một đất nước mà bản Tuyên ngôn độc lập (năm 1774) được để trang trọng và bảo vệ cẩn mật trong khung kính chống đạn, mỗi văn bản khi ra đời được truyền hình quay cận cảnh để đảm bảo tính xác thực thì trong đời thường, việc giao tiếp cũng dễ bị bắt bẻ từng từ. Trên thực tế, các luật sư Mỹ rất thích thú khi làm việc với từ ngữ, càng nhiều từ càng tốt, nên hợp đồng luôn thể hiện tính chi tiết rất cao.</p>
<p style="text-align:justify;">Doanh nhân Mỹ sử dụng hợp đồng và hợp đồng mẫu như một cách tự bảo vệ bằng pháp lý. Luật pháp Mỹ cũng đủ mạnh để bảo vệ tính hợp pháp của các hợp đồng nên có thể nói hợp đồng là thứ văn bản có hiệu lực pháp lý rất cao. Việc tạo dựng quan hệ thân thiết hay các thủ pháp xoa dịu tinh thần với họ hầu như không cần thiết vì đã ký thì cứ y theo hợp đồng mà làm.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>Thỏa thuận lòng vòng</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Trong giao tiếp, người Mỹ có xu hướng nói to, thích nhìn thẳng vào người đối diện và hay đòi hỏi quyền lợi một cách công khai. Sự thẳng thắn này đôi lúc bị nhiều đối tác châu Á, thậm chí cả người châu Âu cho là thiếu tế nhị.</p>
<p style="text-align:justify;">Nhưng đó thật sự là phong cách Mỹ. Họ luôn thúc đẩy cuộc thương lượng đến chỗ kết thúc một cách mau chóng nhất, vì vậy cách làm việc tốt nhất là nên đi thẳng vào vấn đề cũng như đừng mất nhiều thời gian cho các thủ tục giấy tờ. “Make it snappy!” (Nhanh lên!), “What are we waiting for” (Còn chờ gì nữa?), “Jump to it” (Nhào vô!) là những câu cửa miệng của người Mỹ vì bỏ phí thời giờ tức là phí cuộc sống.</p>
<p style="text-align:justify;">Trong các buổi đàm phán thương mại, cách đặt vấn đề của người Việt rất dễ tiệm cận với phong cách của người Mỹ (dù đi lòng vòng nhưng người Việt có thể nhìn thẳng vào vấn đề bất cứ khi nào). Vì vậy, nếu tránh được việc quanh đi quẩn lại với những vấn đề râu ria (được xem là cách thăm dò ý tứ hoặc gợi ý tế nhị của nhiều quốc gia châu Á) thì những thỏa thuận rất dễ đạt được.<span id="more-250"></span></p>
<p style="text-align:justify;">Hãy nói chuyện với người Mỹ càng đơn giản càng tốt, nhưng phải thật logic.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>Không đưa ra quyết định cuối cùng</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Một thói quen của người Việt trên bàn đàm phán là chốt lại vấn đề bằng câu đại ý: “Chúng tôi sẽ có quyết định ngay sau khi xin ý kiến cấp trên”. Đôi khi, đối tác chỉ là những người cấp dưới hoặc thừa hành nên cách này được áp dụng để né việc phải quyết định tức thì.</p>
<p style="text-align:justify;">Các nhà đàm phán Mỹ rất khó chịu với điều này, bởi nó đồng nghĩa với việc họ đang tiếp xúc với một người không có quyền quyết định vấn đề.</p>
<p style="text-align:justify;">Tương tự, nếu muốn đưa các thương gia Mỹ ra khỏi thành phố thăm thú vài nơi, hãy để những người chịu trách nhiệm đi cùng họ, không nên gửi họ cho các công ty du lịch hoặc giao cho cấp dưới.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>Thiếu tính minh bạch</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Người Mỹ mong đợi thông tin trung thực ở bàn đàm phán, thích sự chính xác, cụ thể. Một điều đáng lưu ý là họ rất quan tâm nếu đối tác đã từng đến Mỹ, bởi khi đó cuộc trò chuyện sẽ cởi mở hơn. Họ chia sẻ về nước Mỹ và cũng cần được nghe phản hồi của đối tác về nước Mỹ. Điều này, tuy có vẻ ngoài lề, nhưng lại liên quan đến một khái niệm rất quan trọng là tính minh bạch trong kinh doanh &#8211; chia sẻ và nhận phản hồi ngược lại.</p>
<p style="text-align:justify;">Nếu các thống kê tài chính của công ty mình có vấn đề, doanh nhân Việt nên nhìn nhận và giải thích rõ ràng thay vì chối quanh, lờ đi hay “tiền hậu bất nhất” vì dễ bị đối phương xem như thiếu trung thực.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>Tạo dựng quan hệ bằng giải trí</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Người Việt thường bắt đầu hoặc kết thúc các cuộc đàm phán bằng những hoạt động giải trí như ăn uống, ca hát hoặc thậm chí là massage, quà cáp… để tạo sự thân thiện. Đối với người Mỹ, những hoạt động này không cần thiết, có khi còn gây phản ứng ngược. Người Mỹ ít khi thỏa thuận kinh doanh bên ngoài phòng họp, càng không có thói quen ký hợp đồng trên… bàn nhậu như dân ta.</p>
<p style="text-align:justify;">Thường thì các hoạt động chiêu đãi không nằm trong “ngân sách” giao dịch của doanh nhân Mỹ. Làm ăn với người Mỹ cũng đừng chờ đợi sẽ nhận được những món quà “trên mức tình cảm”. Nếu có thể tổ chức các buổi tiệc tiếp đãi doanh nhân Mỹ, cần lưu ý một số điều tối kỵ sau:</p>
<p style="text-align:justify;">- Không nên lạm dụng việc giới thiệu văn hóa Việt, đặc biệt là ẩm thực. Người Việt rất tự hào về nền ẩm thực đặc sắc và phong phú của mình nên thường chọn các nhà hàng đặc sản địa phương để đãi khách. Tuy nhiên, không phải người Mỹ nào cũng từng thử qua món Việt. Khi đến một vùng đất lạ, nỗi sợ lớn nhất là mắc bệnh nơi xứ người. Thậm chí nhiều người Mỹ cẩn thận còn không quen với những nhà hàng mini, bàn ghế thấp ở Việt Nam. Vì vậy, khi tổ chức tiếp đãi, hãy chọn những nhà hàng cỡ 4 sao hoặc tương đương với đẳng cấp khách sạn họ đang lưu trú và không nên đãi đặc sản địa phương quá một lần.</p>
<p style="text-align:justify;">- Đừng để quên các phu nhân ở lại khách sạn khi mời các ông chồng doanh nhân đi đâu đó. Các vị phu nhân Mỹ luôn hào hứng được dự tiệc cùng chồng và họ đánh giá rất cao sự lịch thiệp của đối tác qua vấn đề này. Đa số người Mỹ thích nghe nhạc nhưng không thể hát. Vì vậy, nếu họ được mời tham gia hát karaoke thì đó là&#8230; cực hình.</p>
<p style="text-align:justify;">“Từ phía người Mỹ, tôi nhận thấy người Việt có những nét văn hóa giải trí rất đẹp, chẳng hạn như thưởng thức cà phê tao nhã hơn cách uống kiểu Starbuck của Mỹ nhiều. Vì vậy, sao không chọn cách mời họ cùng thưởng thức cà phê theo “đẳng cấp Rolls-Royce” của người Việt tại những nơi có không gian đẹp, tầm nhìn lý tưởng và những ly cà phê thượng hạng?”, GS. David F. Day mách nước như vậy.</p>
<p style="text-align:justify;">- Đừng để sự bất ngờ trở thành đồng nghĩa với không chủ định, bởi người Mỹ không bao giờ làm việc gì mà không có mục đích. Nhiều doanh nhân nước ngoài đã mất đối tác Mỹ chỉ vì sơ suất không hiểu tâm lý này. Có một câu chuyện kể về cách giao tiếp với doanh nhân Mỹ như sau: để tạo bất ngờ cho đối tác, một chủ doanh nghiệp đã mời một cách ỡm ờ: “Chúng ta cùng tìm nơi nào để trò chuyện thêm”. Đối tác người Mỹ gặng hỏi: “Đi đâu?”. “Một nơi nào đó rất ấn tượng”. “Nhưng cụ thể là ở đâu?”. “Cứ đi đi, đến nơi nào ông cảm thấy thích”.</p>
<p style="text-align:justify;">Đôi khi, sự bất đồng ngôn ngữ dẫn đến tình huống này và hậu quả là người doanh nhân Mỹ đánh giá đối tác của mình là người không có mục đích rõ ràng. Cuộc thương thảo vì thế sẽ không có lần tiếp theo.<br />
<em></em></p>
<hr />
<table style="text-align:justify;" border="0" cellspacing="0" cellpadding="0" width="600">
<tbody>
<tr>
<td align="center">URL của bản tin này::<a href="http://www.camnangdoanhnghiep.com/apm/modules.php?name=News&amp;file=article&amp;sid=3004">http://www.camnangdoanhnghiep.com/apm/modules.php?name=News&amp;file=article&amp;sid=3004</a></td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/250/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/250/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=250&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/13/l%c6%b0u-y-gi-khi-th%c6%b0%c6%a1ng-th%e1%ba%a3o-v%e1%bb%9bi-doanh-nhan-m%e1%bb%b9/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Về ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/08/v%e1%bb%81-%e1%ba%a3nh-h%c6%b0%e1%bb%9fng-c%e1%bb%a7a-cac-tinh-ti%e1%ba%bft-gi%e1%ba%a3m-nh%e1%ba%b9-trong-vi%e1%bb%87c-quy%e1%ba%bft-d%e1%bb%8bnh-hinh-ph%e1%ba%a1t/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/08/v%e1%bb%81-%e1%ba%a3nh-h%c6%b0%e1%bb%9fng-c%e1%bb%a7a-cac-tinh-ti%e1%ba%bft-gi%e1%ba%a3m-nh%e1%ba%b9-trong-vi%e1%bb%87c-quy%e1%ba%bft-d%e1%bb%8bnh-hinh-ph%e1%ba%a1t/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 08 Jul 2009 06:34:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=247</guid>
		<description><![CDATA[TRỊNH TIẾN VIỆT Khoa luật ĐH quốc gia Hà Nội Điều 45 Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=247&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;">TRỊNH TIẾN VIỆT Khoa luật ĐH quốc gia Hà Nội</p>
<p style="text-align:justify;">Điều 45 Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Như vậy, luật quy định các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ cần thiết để Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt. Do đó, việc nghiên cứu khái niệm, đặc điểm và vai trò của các tình tiết giảm nhẹ đến việc quyết định hình phạt có ý nghĩa lý luận &#8211; thực tiễn và pháp lý rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội, cũng như thể hiện rõ nội dung của phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục” trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. 1. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hiện nay, trong pháp luật hình sự thực định nhà làm luật nước ta không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm này1. Theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm này có thể hiệu như sau: Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt. 2. Đặc điểm của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Xuất phát từ khái niệm đã nêu trên và phân tích các quy định của BLHS năm 1999 có liên quan đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chúng ta có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản dưới đây của chúng. &#8211; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Tòa án cân nhắc trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội không những: a) được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự thực định (khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999); b) được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật (Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của BLHS năm 1999) mà còn; c) trong quá trình xét xử, Tòa án tự xem xét, cân nhắc những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ghi rõ lý do trong bản án. Tuy nhiên, đối với nhóm tình tiết này, chúng được áp dụng chỉ trong những trường hợp cụ thể, với những người phạm tội cụ thể và trong vụ án cụ thể mà Tòa án đang xem xét. Điều này khác biệt so với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Tòa án nhất thiết không được áp dụng những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ngoài những tình tiết được quy định trong khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. &#8211; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Tòa án cân nhắc, xem xét trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội là tình tiết phản ánh các đặc điểm thuộc về mặt khách quan, về mặt chủ quan hoặc về nhân thân người phạm tội. Nó có vai trò nhằm mô tả rõ nét hơn hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, qua đó làm căn cứ đánh giá chính xác và đầy đủ mức độ nguy hiểm cho xã hội (theo hướng giảm nhẹ hơn) không chỉ của hành vi phạm tội mà còn cả của nhân thân người phạm tội nữa. &#8211; Trường hợp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được luật quy định với tính chất là yếu tố định tội đối với một tội phạm tương ứng cụ thể, thì trong việc quyết định hình phạt, Tòa án nhất thiết không thể xem xét nó với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. &#8211; Trường hợp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được luật quy định với tính chất là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm tương ứng cụ thể, thì trong việc quyết định hình phạt, Tòa án nhất thiết không thể xem xét nó với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. &#8211; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể là tình tiết trực tiếp liên quan đến việc phạm tội, song cũng có những tình tiết khác mặc dù không trực tiếp liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn biện pháp xử lý đối với người phạm tội. Sự hiện diện của những tình tiết đó có thể phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội. &#8211; Luật không quy định cụ thể các tình tiết giảm nhẹ có vai trò (ảnh hưởng) đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội như thế nào mà trao quyền đánh giá, phán xét này cho Tòa án. Điều này thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt, hợp lý và tính xác định tương đối của luật. Tuy nhiên, sự đánh giá của Tòa án không phải là vô hạn mà chỉ trong những phạm vi (giới hạn) xê dịch cụ thể, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định và những căn cứ khác. Trên cơ sở đánh giá tổng hợp này, Tòa án mới có thể ra phán quyết đúng đắn, công minh, có căn cứ và đúng pháp luật. Và hơn nữa, khi đó Tòa án mới có thể quyết định loại và hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và của cả nhân thân người phạm tội. 3. Ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 có liên quan đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn, chúng ta có thể nhận thấy vai trò của chúng trong việc quyết định hình phạt ở một số bình diện dưới đây. &#8211; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa làm cho tội phạm đã thực hiện và nhân thân của người phạm tội ít nguy hiểm hơn so với những trường hợp phạm tội mà không có tình tiết giảm nhẹ đó, đồng thời khi có nó người phạm tội được Tòa án áp dụng loại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn<span id="more-247"></span>. Tất nhiên, trong một vụ án nếu có càng nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự càng lớn và nhiều trường hợp chúng tạo ra sự thay đổi phá vỡ giới hạn tối thiểu và giới hạn tối đa của khung chế tài. &#8211; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một phạm trù pháp lý đặt ra để xác định làm giảm mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, giảm nhẹ mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Một mức hình phạt lựa chọn loại hình phạt nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ hơn, mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn hoặc thậm chí lựa chọn giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình một phần phụ thuộc vào việc người phạm tội có hay không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có một hay nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để từ đó Tòa án quyết định. &#8211; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi kết hợp với nhau, đáp ứng những điều kiện luật định khác thì chúng ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau đến việc quyết định hình phạt (hay nói cách khác là đến vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội), mà cụ thể là: + Ở mức độ thứ nhất, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có khả năng làm giảm mức hình phạt trong giới hạn (phạm vi) một khung hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ này vừa được quy định trong luật (khoản 1 Điều 46), vừa được quy định trong các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật2 và có thể là tình tiết do Tòa án tự cân nhắc, xem xét và ghi rõ trong bản án. Tuy nhiên, chúng chỉ có giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp cụ thể và đối với từng người phạm tội cụ thể trong một khung (cấu thành) tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. + Ở mức độ thứ hai, đối với từng vụ án và người phạm tội cụ thể khi có sự kết hợp của nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với các điều kiện luật định khác, thì Tòa án có thể áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài &#8211; hoặc có thể quyết định hình phạt dưới mức tối thiểu của khung hình phạt hoặc quyết định một loại hình phạt nhẹ hơn. Cụ thể, “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; và trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” (Điều 47). Tuy nhiên, chỉ áp dụng quy định này khi đáp ứng hai điều kiện: Thứ nhất, phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 36 BLHS và thứ hai, hành vi phạm tội tương xứng với mức thấp nhất của khung hình phạt khi xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể đó3. Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng luật quy định Tòa án có thể được quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định, chứ không bắt buộc (nhất thiết) phải áp dụng. Việc quyết định có áp dụng hay không là thuộc về Hội đồng xét xử sau khi đã cân nhắc tổng hợp cả các yếu tố (căn cứ) khác nữa. + Ở mức độ thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tạo khả năng để Tòa án có thể làm giảm khung hình phạt. Đây là một mức độ ảnh hưởng cao của các tình tiết giảm nhẹ đến trách nhiệm hình sự, nó “không chỉ có tác dụng phá vỡ giới hạn tối thiểu mà còn cả giới hạn tối đa của chế tài theo hướng giảm nhẹ”4. Theo quy định của BLHS hiện hành, chỉ có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm liên quan đến các giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và người phạm tội là người chưa thành niên mới có giá trị giảm nhẹ ở mức độ này và sự ảnh hưởng giảm nhẹ này được thể hiện tại các Điều 52, 72, 73 và 74 BLHS năm 1999. + Ngoài ra, các tình tiết giảm nhẹ còn có ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt người phạm tội mà từ đó họ có thể được loại trừ khả năng bị áp dụng hình phạt đặc biệt nghiêm khắc như hình phạt tù chung thân (Điều 34), hình phạt tử hình (Điều 35); hoặc được áp dụng các chế định nhân đạo của luật hình sự như: miễn hình phạt (Điều 54), án treo (Điều 60), v.v… &#8211; Mỗi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ảnh hưởng khác nhau đối với những người phạm tội khác nhau trong cùng một vụ án hình sự đối với một tội phạm cụ thể. Cụ thể, trong một vụ án hình sự có thể có một tội phạm hoặc nhiều tội phạm, một người phạm tội hoặc nhiều người phạm tội, nên việc xác định tình tiết định tội, tình tiết định khung và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chỉ trong phạm vi một tội phạm cụ thể mà không được sử dụng tình tiết định tội hay tình tiết định khung của tội phạm này làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tội phạm khác, cũng như tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội này làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khác. Việc xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Trách nhiệm này không được hiểu là các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định đủ các loại tình tiết: tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nếu hiểu như vậy sẽ vi phạm nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong vụ án hình sự với một tội phạm cụ thể có thể có hoặc không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thể có một hoặc nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thể có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm được quy định trong luật và có thể không được quy định trong luật. Điều này phụ thuộc vào các tình tiết khách quan của vụ án mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng trong vụ án đó. &#8211; Trường hợp người phạm tội vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này khi đánh giá (quyết định hình phạt), Tòa án phải có quan điểm toàn diện, đánh giá khách quan ý nghĩa của từng tình tiết và nhất là không được nghiêng về tình tiết giảm nhẹ hay tăng nặng trách nhiệm hình sự. Điểm 4 mục B phần II của Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/1/1989 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn như sau: “Trong trường hợp một vụ án có cả tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ thì Tòa án phải đánh giá, cân nhắc toàn diện, đầy đủ trong một tổng thể, không được đánh giá, cân nhắc một chiều tức là coi trọng tình tiết này, xem thường tình tiết khác, nhất là các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội hoặc ngược lại. Thông thường nếu tính chất của các tình tiết tăng nặng tương đương với tính chất của các tình tiết giảm nhẹ thì Tòa án không được áp dụng khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985. Nhưng nếu các tình tiết giảm nhẹ nhiều hơn thì Tòa án vẫn có thể áp dụng khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985”. Ngược lại, nếu tình tiết tăng nặng có ý nghĩa tăng nặng đáng kể, tình tiết giảm nhẹ không đáng kể thì đây là trường hợp tăng nặng và phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc. &#8211; Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không được quy định trong luật do Tòa án tự cân nhắc và xem xét và ghi rõ trong bản án đòi hỏi không những phải phù hợp với chính sách hình sự và các chính sách khác của Nhà nước nói chung, với đạo đức &#8211; tâm lý chung của xã hội, mà còn thích hợp với từng vụ án tương ứng cụ thể nhằm tránh xu hướng tiêu cực đôi khi thường gặp trong thực tiễn xét xử &#8211; các Tòa án mở rộng một cách quá tùy tiện làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng và chống tội phạm5. &#8211; Mỗi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong luật (khoản 1 Điều 46) chỉ có ý nghĩa áp dụng đối với một hoặc một số hành vi phạm tội hoặc đối với một số người phạm tội chứ không thể áp dụng đối với tất cả các tội phạm hoặc đối với tất cả người phạm tội. Chẳng hạn, tình tiết “phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” (điểm c, khoản 1 Điều 46) chủ yếu áp dụng đối với các tội giết người (Điều 93), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104). &#8211; Khi xem xét, cân nhắc để áp dụng chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến một người phạm tội nào trong vụ án có đồng phạm, thì Tòa án chỉ được phép áp dụng các tình tiết giảm nhẹ ấy đối với riêng bản thân người này, chứ không được áp dụng đối với những người đồng phạm khác. Nói cách khác, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về người phạm tội nào, thì chỉ có người đó được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. &#8211; Việc xem xét, cân nhắc để áp dụng chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự cụ thể và đối với mỗi người phạm tội cụ thể chính là đảm bảo sự phù hợp giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội so với mức hình phạt của khung hình phạt tương ứng được quy định tại Điều luật cụ thể của Phần các tội phạm BLHS, đồng thời còn phù hợp với các yếu tố khác như: phương thức, thủ đoạn phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, thời gian, không gian phạm tội, tính chất của hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội và cả của nhân thân người phạm tội nữa. &#8211; Trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội, cần phân biệt tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào là tình tiết định tội, tình tiết định khung hay là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chung, cũng như thấy được mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ giữa chúng với nhau trong một vụ án hình sự. Mặt khác, để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, Tòa án phải xác định rõ tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ (và tăng nặng) trách nhiệm hình sự. Các loại tình tiết này có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình định tội, lượng hình đối với người phạm tội. Như vậy, đối với một vụ án hình sự cụ thể, chỉ sau khi xác định được tình tiết định tội mới xác định được tình tiết định khung. Ngược lại, tình tiết định khung có tác dụng trở lại đối với tình tiết định tội. Tình tiết định khung là căn cứ xác định, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội một cách cụ thể hơn. Sau khi đã xác định tội danh và khung hình phạt cụ thể mới có cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. &#8211; Việc xem xét, cân nhắc để áp dụng chính xác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự chính là biểu hiện sự tôn trọng của các cơ quan tư pháp hình sự và Tòa án đối với các nguyên tắc tiến bộ của luật hình sự Việt Nam (như: nguyên tắc pháp chế, công minh, bình đẳng v.v&#8230; trước luật hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nói chung, cũng như đối với nguyên tắc quyết định hình phạt nói riêng (nguyên tắc cá thể hóa hình phạt) trong thực tiễn xét xử nói riêng. Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong BLHS Việt Nam năm 1999, trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng chúng, chúng tôi có một số kiến nghị cụ thể sau: &#8211; Trong BLHS năm 1999 hiện hành còn thiếu một loạt các định nghĩa pháp lý cần được bổ sung đó là: như thế nào là tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm cơ sở giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự và Tòa án phân biệt cũng như áp dụng chúng thống nhất trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự. &#8211; Việc sử dụng thuật ngữ trong các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự còn chưa thống nhất trong BLHS năm 1999. Cụ thể, khoản 3 Điều 46 dùng thuật ngữ “dấu hiệu” còn khoản 2 Điều 48 lại sử dụng thuật ngữ “yếu tố”; khoản 3 Điều 46 dùng thuật ngữ “định khung”, nhưng khoản 2 Điều 48 lại sử dụng thuật ngữ “định khung hình phạt” và nhược điểm này cần được nhà làm luật kịp thời khắc phục. &#8211; Luật quy định khi quyết định hình phạt, quyết định miễn hình phạt, cho người bị kết án hưởng án treo, Tòa án phải căn cứ vào “các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” (Điều 45, 54 và 60 BLHS năm 1999). Tuy nhiên, nhà làm luật nước ta cũng chưa quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cân nhắc ở bước (giai đoạn) quyết định hình phạt, có được Tòa án xem xét và áp dụng khi cho miễn hình phạt, khi cho người bị kết án hưởng án treo hay không6. &#8211; Và cuối cùng, theo chúng tôi nhà làm luật nước ta cần ghi nhận tình tiết người phạm tội đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Lý do, thực tiễn vẫn áp dụng coi nó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, TANDTC, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú đã không phân định rõ hai khái niệm tự thú và đầu thú mà gộp chung chúng lại với nhau. Và hơn nữa, nó cũng đáp ứng được yêu cầu của một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giống như tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú (quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999). Vì có như vậy mới khuyến khích người phạm tội ra đầu thú và cũng nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động người phạm tội ra đầu thú7 &lt;!&#8211;[if !vml]&#8211;&gt; 1 Xem cụ thể hơn: Lê Cảm &#8211; Trịnh Tiến Việt, Nhân thân người phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2002; Dương Tuyết Miên, Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng theo BLHS năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2003; Đinh Văn Quế, Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Trần Thị Quang Vinh, Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2003; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001; Trần Văn Sơn, Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996; Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tập thể tác giả do TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999 (Phần chung), Tập thể tác giả do TS Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Tập thể tác giả do PGS-TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb CAND, Hà Nội, 2001; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do PGS-TS Võ Khánh Vinh chủ biên, ĐH Huế, Nxb Giáo dục, 2001; v.v… 2 Xem: Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS năm 1999. 3 Xem: Trần Thị Quang Vinh, Ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong chế định quyết định hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2001, tr. 17. 4 Xem: Trần Thị Quang Vinh, Ảnh hưởng của các tình tiết&#8230;, bài đã dẫn, tr. 19. 5 Xem: Lê Cảm &#8211; Trịnh Tiến Việt, Nhân thân người phạm tội : Một số vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí TAND, số 1/2002, tr. 19. 6 Xem: Trịnh Tiến Việt, Về các điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của BLHS năm 1999, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2003, tr. 30. 7 Xem: Nguyễn Đức Tuấn, Một số ý kiến về tự thú và đầu thú trong BLHS năm 1999, Bản tin Kiểm sát, số Xuân ra ngày 1/1/2002, tr. 36.(<a href="http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=295:tc2004so1vttgntqdhp&amp;catid=95:ctc20041&amp;Itemid=107">http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=295:tc2004so1vttgntqdhp&amp;catid=95:ctc20041&amp;Itemid=107</a>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/247/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/247/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=247&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/08/v%e1%bb%81-%e1%ba%a3nh-h%c6%b0%e1%bb%9fng-c%e1%bb%a7a-cac-tinh-ti%e1%ba%bft-gi%e1%ba%a3m-nh%e1%ba%b9-trong-vi%e1%bb%87c-quy%e1%ba%bft-d%e1%bb%8bnh-hinh-ph%e1%ba%a1t/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự tại Toà án.</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/th%e1%bb%a7-t%e1%bb%a5c-kh%e1%bb%9fi-ki%e1%bb%87n-v%e1%bb%a5-an-dan-s%e1%bb%b1-t%e1%ba%a1i-toa-an/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/th%e1%bb%a7-t%e1%bb%a5c-kh%e1%bb%9fi-ki%e1%bb%87n-v%e1%bb%a5-an-dan-s%e1%bb%b1-t%e1%ba%a1i-toa-an/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Jul 2009 06:01:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=240</guid>
		<description><![CDATA[Bước 1: Xác định điều kiện khởi kiện: 1. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Việc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử là việc rất quan trọng, trong mỗi vụ án việc xác định thẩm quyền theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=240&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="justify">Bước 1: Xác định điều kiện khởi kiện:</p>
<p align="justify"><em><span style="color:#0000ff;">1. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp:</span></em></p>
<p align="justify">Việc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử là việc rất quan trọng, trong mỗi vụ án việc xác định thẩm quyền theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2003.</p>
<p align="justify">a/ Xác đinh vụ việc có thuộc một trong các loại việc quy định tại Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS;</p>
<p align="justify">b/ Xác định vụ việc đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 33, 34, 35, 36, 37 BLTTDS.</p>
<p align="justify"><em><span style="color:#0000ff;">2. Xác định về thời hiệu khởi kiện:</span></em></p>
<p align="justify">Việc xác định thời hiệu  khởi kiện rất quan trọng, đánh giá về việc người khởi kiện còn đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật hay không. Việc xác định thời hiệu khởi kiện dựa vào thời điểm phát sinh tranh chấp để tính thời hiệu:</p>
<p align="justify"><span style="text-decoration:underline;">Tính thời hiệu đối với vụ án dân sự:</span></p>
<p align="justify">- Nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày 1/1/2005;</p>
<p align="justify">- Nếu tranh chấp phát sinh kể từ ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ thời điểm quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.</p>
<p align="justify"><span style="text-decoration:underline;">Tính thời hiệu đối với vụ việc dân sự:</span></p>
<p align="justify">- Nếu quyền yêu cầu phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hiệu yêu cầu là 1 năm kể từ ngày 1/1/2005;</p>
<p align="justify">- Nếu quyền yêu cầu phát sinh từ ngày 1/1/2005 thì thời hiệu yêu cầu là 1 năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.</p>
<p align="justify">Việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu đối với vụ việc dân sự nếu pháp luật đã có quy định về thời hiệu khác với quy định tại Điều 159 BLTTDS thì áp dụng theo thời hiệu của luật chuyên ngành còn nếu không quy định thì áp dụng cách tính thời hiệu theo quy định của BLTTDS.</p>
<p align="justify"><em><span style="color:#0000ff;">3. Xác định về các điều kiện khác:</span></em></p>
<p align="justify">Một số vụ án, vụ việc dân sự phải xác định các điều kiện khác như: Điều kiện về hào giải tại cơ sở, yêu cầu đã được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay chưa.</p>
<p align="justify">* Đối với các vụ án mà theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải thông qua hòa giải tại cơ sở thì trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết phải tiến hành hòa giải và có yêu cầu hòa giai tại cơ sở.</p>
<p align="justify">Ví dụ:</p>
<p align="justify">- Đối với vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất: thì các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 135, 136 Luật đất đai 2003 phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tranh chấp;<span id="more-240"></span></p>
<p align="justify">* Đối với vụ án mà đã được giải quyểt bằng một bản qná hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì không có quyền khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa, ngoại trừ các trường hợp sau:</p>
<p align="justify">+/ Yêu cầu xin thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, thay đổi nuôi con nuôi;</p>
<p align="justify">+/ Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;</p>
<p align="justify"> +/ Tạm đình chỉ vụ án do người khởi kiện rút đơn khởi kiện do Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc trong trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.</p>
<p align="justify">Bước 2: Thu thập chứng cứ, tài liệu chuẩn bị khởi kiện:</p>
<p align="justify">Thu thập chứng cứ để xác định điều kiện khởi kiện cũng như để chứng minh quyền khởi kiện cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích trong quá trình tham gia tố tụng.</p>
<p align="justify">Bước 3: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:</p>
<p align="justify">Hồ sơ khởi kiện là hồ sơ mà nguyên đơn nộp cho Tòa án khi khởi kiện vụ án. Hồ sơ khởi kiện giúp đưa các thông tin đích của nguyên đơn đối với hội đồng xét xử. Hồ sơ khởi kiện chứa đựng những ý tưởng quan trọng mà qua đó nguyên đơn muốn làm sáng tỏ yêu cầu của mình.</p>
<p align="justify"><em>Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện trong các vụ án cụ thể:</em></p>
<p align="justify"><span style="text-decoration:underline;">a/ Đối với vụ án hôn nhân gia đình</span></p>
<p align="justify">  Hồ sơ khởi kiện cần các giấy tờ sau:</p>
<p align="justify">+ Giấy chứng nhận kết hôn;</p>
<p align="justify">+ Giấy khai sinh của con;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ chứng nhận tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản thuộc sở hữu riêng của từng người;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ về các khoản nợ chung hoặc riêng của hai vợ chồng ( Nếu có);</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ tài liệu khác liên quan…;</p>
<p align="justify"><span style="text-decoration:underline;">b/ Đối với vụ án thừa kế</span></p>
<p align="justify">Hồ sơ khởi kiện cần các giấy tờ sau:</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, CMTND, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;</p>
<p align="justify">+ Di chúc ( nếu có);</p>
<p align="justify">+ Giấy chứng tử cảu người để lại di sản thừa kế;</p>
<p align="justify">+ Bản kê khai các di sản;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong họ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn ( nếu có), tờ khai khước từ nhận di sản ( Nếu có).</p>
<p align="justify"><span style="text-decoration:underline;">c/ Đối với vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất</span></p>
<p align="justify">Hồ sơ cần các giấy tờ sau:</p>
<p align="justify">+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc một trong các giấy tờ theo quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003;</p>
<p align="justify">+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</p>
<p align="justify">+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trogn sổ đăng ký ruộng đấy, sổ địa chính;</p>
<p align="justify">+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho qiuền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất;</p>
<p align="justify">+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 nay được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng đất trước ngày 15/10/2003;</p>
<p align="justify">+ Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở thuộc chế độ cũ cấp cho ngướipử dụng đất;</p>
<p align="justify">+ Bản án hoặc quyết ssịnh của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; quyết ssịnh giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước cớ thẩm quyền đã được thi hành;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền: Quyết định cấp đất. bản án, quyết định của Tòa án… ( Trong trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất);</p>
<p align="justify">+ Các biên bản giải quyết của cơ quan chức năng…</p>
<p align="justify">+ Biên bản hòa giải tại xã, phường.</p>
<p align="justify"><span style="text-decoration:underline;">d/ Đối với các vụ án tranh chấp về nhà ở:</span></p>
<p align="justify"> Hồ sơ cần có các giấy tờ sau:</p>
<p align="justify">+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ xác nhận chủ quyền nhà ( trong trường hợp chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà);</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ liên quan tới giao dịch nhà ở có thanh chấp: Giấy tờ cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ, mua bán… hoặc các giấy tờ tài liệu thẻ hiện có quan hệ này;</p>
<p align="justify">+ Các giấy tờ, tài liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giải quyết nhà đang có tranh chấp ( nếu có).</p>
<p align="justify">Bước 4: Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.</p>
<p align="justify">+ Hồ sơ đã được chuẩn bị nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án bằng hai cách đó là có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc Nộp đơn khởi kiện tới Tòa án qua đường bưu điện.</p>
<p align="justify">+ Nộp tiền tạm ứng án phí</p>
<p align="justify">Bước 5: Thực hiện các thủ tục cần thiết sau khi Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án</p>
<p align="justify">+ Hòa giải tại Tòa án;</p>
<p align="justify">+ Viết bản tự khai;</p>
<p align="justify">+ Tham gia phiên Tòa khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.</p>
<p style="text-align:right;"><em>(S.t)</em></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/240/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/240/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=240&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/th%e1%bb%a7-t%e1%bb%a5c-kh%e1%bb%9fi-ki%e1%bb%87n-v%e1%bb%a5-an-dan-s%e1%bb%b1-t%e1%ba%a1i-toa-an/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>VÀI Ý KIẾN VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/vai-y-ki%e1%ba%bfn-v%e1%bb%81-ngu%e1%bb%93n-ch%e1%bb%a9ng-c%e1%bb%a9-theo-quy-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-b%e1%bb%99-lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-dan-s%e1%bb%b1/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/vai-y-ki%e1%ba%bfn-v%e1%bb%81-ngu%e1%bb%93n-ch%e1%bb%a9ng-c%e1%bb%a9-theo-quy-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-b%e1%bb%99-lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-dan-s%e1%bb%b1/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Jul 2009 03:04:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=237</guid>
		<description><![CDATA[Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ. Tòa án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ để từ đó rút ra các chứng cứ cần thiết để sử dụng vào việc tìm ra sự thật vụ án và đưa ra quyết định đúng đắn để giải quyết vụ việc dân sự [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=237&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong>Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ. Tòa án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ để từ đó rút ra các chứng cứ cần thiết để sử dụng vào việc tìm ra sự thật vụ án và đưa ra quyết định đúng đắn để giải quyết vụ việc dân sự đó.</strong></p>
<p style="text-align:justify;"> Theo quy định tại điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì nguồn chứng cứ được quy định như sau:</p>
<p style="text-align:justify;"><em>“Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:</em></p>
<ol style="text-align:justify;">
<li><em>1.     </em><em>Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;</em></li>
<li><em>2.     </em><em>Các vật chứng;</em></li>
<li><em>3.     </em><em>Lời khai của đương sự;</em></li>
<li><em>4.     </em><em>Lời khai của người làm chứng;</em></li>
<li><em>5.     </em><em>Kết luận giám định;</em></li>
<li><em>6.     </em><em>Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;</em></li>
<li><em>7.     </em><em>Tập quán;</em></li>
<li><em>Kết quả đánh giá tài sản;</em></li>
<li><em>Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”</em></li>
</ol>
<p style="text-align:justify;">Với quy định này thì nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự chỉ được quy định trong 8 nguồn chính. Ngoài 8 nguồn chứng cứ này Tòa án không được sử dụng thêm bất cứ nguồn nào khác để thu thập làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Tại khoản 9 điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: <em>“Các nguồn khác mà pháp luật có quy định”</em> cần được hiểu đây là một quy định dự phòng của pháp luật chứ không phải là một quy định mở để Tòa án áp dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án. Do vậy, cho đến khi pháp luật có quy định thêm một nguồn chứng cứ nào đó thì Tòa án chỉ được phép thu thập chứng cứ theo qui định từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 82 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, không phải bất cứ tài liệu, dữ kiện nào được thu thập từ các nguồn chứng cứ cũng đều được xem là chứng cứ và được sử dụng vào việc giải quyết vụ án mà các tài liệu, dữ kiện này phải đảm bảo được các thuộc tính cơ bản của chứng cứ, đồng thời phải phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự về xác định chứng cứ.</p>
<p style="text-align:justify;">Ví dụ: biên bản ghi lời khai của đương sự là một nguồn chứng cứ nhưng có những trường hợp toàn bộ lời khai đó là gian dối, bịa đặt thì lời khai đó không được coi là chứng cứ của vụ án.</p>
<p style="text-align:justify;">Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể về điều kiện xác định chứng cứ trong các nguồn chứng cứ như sau :</p>
<p style="text-align:justify;"><em>“1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>3. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>4. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>5. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>7. Tập quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận;</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>8. Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp theo quy định tại khoản 1 Điều này.”</em></p>
<p style="text-align:justify;">Với quy định này của điều luật chúng ta thấy rằng : đối với loại nguồn chứng cứ là các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được khi có chứa đựng chứng cứ của vụ án; nếu là tài liệu đọc được nội dung thì phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cung cấp, xác nhận; nếu là loại tài liệu nghe được, nhìn được (như băng đĩa ghi âm, ghi hình) thì phải xuất trình được văn bản xác nhận về xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, ghi hình đó; có như vậy thì các tài liệu đó mới được coi là có giá trị và được sử dụng làm chứng cứ chứng minh trong vụ án.</p>
<p style="text-align:justify;">Đối với loại nguồn chứng cứ là vật chứng : vật chứng được pháp luật quy định là nguồn chứng cứ vì tồn tại trong chính bản thân nó là chứng cứ của vụ án, nó chỉ chứa đựng chứng cứ chứ nó không phải là chứng cứ.</p>
<p style="text-align:justify;">Ví dụ : A kiện B đòi bồi thường chiếc xe bị hư – ở đây chiếc xe bị hư là vật chứng còn những hư hỏng của xe là chứng cứ.<span id="more-237"></span></p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy vật chứng phải luôn là hiện vật gốc có tính đặc định liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý. Nếu có sự sao chép, tái hiện lại vật chứng thì vật được sao chép đó không được xem là vật chứng. Do đó, quá trình thu thập vật chứng Tòa án phải đảm bảo các trình tự, thủ tục luật định và phải bảo quản, giữ gìn nhằm giữ được tính đặc định của vật chứng.</p>
<p style="text-align:justify;">Đối với loại nguồn chứng cứ là tập quán : để một tập quán trở thành chứng cứ trong một vụ án củ thể thì người đưa ra tập quán đó phải trình bày rõ nguồn gốc của tập quán, phải chứng minh tính cộng đồng của tập quán đó bằng cách ghi nhận nó bằng văn bản, thể hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán thừa nhận, có chứng thực về nội dung của chính quyền địa phương nơi có tập quán về tập quán đó. Nếu không chứng minh được tính cộng đồng của tập quán thì nó sẽ không có giá trị chứng cứ.</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên cần chú ý là tập quán được sử dụng làm chứng cứ phải không được trái với các nguyên tắc của pháp luật, đạo đức xã hội và tập quán này chưa được ghi nhận hoặc cụ thể hóa trong luật. Nếu pháp luật đã ghi nhận tập quán đó bằng các quy định cụ thể thì phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.</p>
<p style="text-align:justify;">Ngoài ra các lời khai của đương sự, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản nếu được tiến hành đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và đảm bảo 3 thuộc tính của chứng cứ thì sẽ được coi là chứng cứ và được sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án.</p>
<p style="text-align:justify;">Tóm lại, với quy định về chứng cứ, nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được phân tích ở trên cho thấy chứng cứ có vai trò rất quan trọng trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và để xác định chứng cứ nào là có thật giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự đòi hỏi người Thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ, kiến thức xã hội và khả năng nhạy bén trong quá trình xác định, thu thập chứng cứ.</p>
<p style="text-align:justify;"> </p>
<p style="text-align:justify;"> (TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, 26/06/2008)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/237/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/237/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=237&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/vai-y-ki%e1%ba%bfn-v%e1%bb%81-ngu%e1%bb%93n-ch%e1%bb%a9ng-c%e1%bb%a9-theo-quy-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-b%e1%bb%99-lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-dan-s%e1%bb%b1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>HÌNH SỰ HOÁ CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ, KINH TẾ TRƯỚC HẾT XÂM HẠI TỚI QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CÓ HÀNH VI BỊ HÌNH SỰ HOÁ</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/hinh-s%e1%bb%b1-hoa-cac-giao-d%e1%bb%8bch-dan-s%e1%bb%b1-kinh-t%e1%ba%bf-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-h%e1%ba%bft-xam-h%e1%ba%a1i-t%e1%bb%9bi-quy%e1%bb%81n-va-l%e1%bb%a3i-ich-h%e1%bb%a3p-phap-c%e1%bb%a7a-ng/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/hinh-s%e1%bb%b1-hoa-cac-giao-d%e1%bb%8bch-dan-s%e1%bb%b1-kinh-t%e1%ba%bf-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-h%e1%ba%bft-xam-h%e1%ba%a1i-t%e1%bb%9bi-quy%e1%bb%81n-va-l%e1%bb%a3i-ich-h%e1%bb%a3p-phap-c%e1%bb%a7a-ng/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Jul 2009 02:57:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=235</guid>
		<description><![CDATA[Th.S Phạm Văn Be &#8211;  Th.S, LS Bùi Quang Nhơn  Hình sự hoá (penalisation) là việc quy định hình phạt hay việc xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện áp dụng hình phạt đối với loại tội phạm này hay tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự. Hình [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=235&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em>Th.S Phạm Văn Be &#8211; </em></strong><strong><em> Th.S, LS Bùi Quang Nhơn</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"> Hình sự hoá (penalisation) là việc quy định hình phạt hay việc xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện áp dụng hình phạt đối với loại tội phạm này hay tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự. Hình sự hoá chỉ diễn ra ở giai đoạn xây dựng pháp luật chứ không diễn ra ở giai đoạn áp dụng pháp luật. Và, theo nguyên tắc pháp chế, hiện nay Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận nguyên tắc “tương tự” pháp luật, khi đó chỉ có Quốc hội mới có quyền tiến hành hoạt động “hình sự hoá”. Quan điểm này đã trở thành quan điểm chính thống trong các tác phẩm lý luận Luật hình sự ở Việt Nam (xem Tội phạm học, Luật hình sự và Luật Tố tụng hình sự Việt Nam &#8211; Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật – Nxb Chính trị Quốc gia 1994, tr.124; Đào Trí Úc – Luật hình sự Việt Nam (quyển 1) Những vấn đề chung – Nxb Khoa học xã hội 2000, tr.85).</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, trong giới báo chí cũng như nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay đã cho ra một cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” với nghĩa hoàn toàn độc lập với ý nghĩa ban đầu của “hình sự hoá”. Theo đó, cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” dùng để mô tả hiện tượng dùng biện pháp hình sự để giải quyết các vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh tế chưa đến mức cấu thành tội phạm. Điều này dẫn đến hậu quả oan sai trong tố tụng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Sự xuất hiện của cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” ở Việt Nam có thể được xem là một hiện tượng về ngôn ngữ bắt nguồn từ yêu cầu cấp thiết phản ánh một hiện tượng tiêu cực của nền tư pháp nước nhà. Nếu bạn là người có quan tâm đến đề tài này, bạn có thể thấy rằng “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” diễn ra rất đa dạng bao gồm cả trong các giao dịch nội địa lẫn các giao dịch có yếu tố nước ngoài; người có hành vi vi phạm bị “hình sự hoá” (sau đây được hiểu là  “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”) không chỉ là người Việt Nam mà còn có cả người nước ngoài; hành vi “hình sự hoá” của các cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ dừng lại ở việc điều tra, truy tố, xét xử mà còn cả trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản…</p>
<p style="text-align:justify;">Hoạt động ngân hàng là một hoạt động đặc thù nhưng cũng được tiến hành thông qua các giao dịch “dân sự”, “kinh tế”. Vì thế, “hình sự hoá” cũng có thể xảy ra trong khi giải quyết tranh chấp về các giao dịch trong các hoạt động ngân hàng. Do đó, trong nội dung bài viết này, chúng tôi đề cập đến vấn đề ““hình sự hoá” nói chung trong đó bao gồm cả các giao dịch trong hoạt động ngân hàng.</p>
<p style="text-align:justify;">Trước tiên, chúng ta xem một ví dụ. Đây là một vụ án trong số nhiều vụ án bị “hình sự hoá”. Đó là vụ án của Bạch Minh Sơn (Giám đốc Công ty cổ phần BAMEX) bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” (Điều 135 Bộ luật hình sự 1985) (xem Tạp chí Kiểm sát số 1+2/1999):</p>
<p style="text-align:justify;">Ngày 30/11/1993, ông Bạch Minh Sơn ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công đoàn Ngân hàng ngoại thương Trung ương. Theo hợp đồng, Ngân hàng góp vốn để công ty ông Sơn mua nguyên vật liệu tổ chức sản xuất tấm lợp cót ép xuất khẩu, tỷ suất chia lợi nhuận là 50/50. Trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng, ông Sơn đã nhận 6 tỷ đồng của Ngân hàng và dùng vào việc sản xuất. Khi thanh lý hợp đồng, ngày 30/7/1995, ông Sơn chỉ mới trả được 650 triệu và còn nợ trên 5 tỷ đồng ông Sơn không có khả năng trả nợ. Ngoài ra, năm 1989, ông Sơn còn nhận của Bảo Việt Nhân Thọ 200.000 USD tiền vốn với hình thức liên doanh để sản xuất tấm lợp, sau không có khả năn thanh toán. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán xác định tài sản của công ty của ông Sơn còn trị giá 12 tỷ đồng. Vụ việc bị phát hiện, ông Sơn bị cơ quan điều tra thành phố Hà Nội khởi tố về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” (Điều 135 Bộ luật hình sự 1985). Sau khi Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa vụ án ra xét xử và áp dụng khoản 2 Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 kết luận Sơn vô tội tại bản án hình sự sơ thẩm số 165/HSST với lý do dù Sơn chưa trả được nợ nhưng tài sản của Sơn còn đủ để thanh toán nợ. Ngày 26/11/1998, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã kháng nghị bản án này. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã rút toàn bộ kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và Toà phúc thẩm đình chỉ vụ án.</p>
<p style="text-align:justify;">Thực tế cho thấy, hành vi vi phạm bị đánh giá sai bản chất pháp lý và “hình sự hoá” thường là hành vi không trả được nợ (vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ). Loại tội danh thường áp dụng trong khi “hình sự hoá” là tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”(Điều 135, 158 Bộ luật hình sự 1985, 140 Bộ luật hình sự hiện hành). Cá biệt cũng có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 134, 134a, 157 Bộ luật hình sự 1985, 139 Bộ luật hình sự hiện hành) (chẳng hạn vụ án của Terry Lee – Daso, xem Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ngày 3/10/2000).<span id="more-235"></span></p>
<p style="text-align:justify;">“Hình sự hoá” các giao dịch dân sự, kinh tế trước tiên và dễ thấy là sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có hành vi bị “hình sự hoá”. Thực tế cho thấy, hầu hết các vụ án bị “hình sự hoá” đều gắn với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, kê biên, niêm phong tài sản…Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam sẽ xâm hại đến quyền tự do, dân chủ của công dân. Bên cạnh đó, việc làm này sẽ gây tổn thương nặng nề đến tâm lý của người bị tạm giữ, tạm giam. Thêm vào đó, uy tín nói chung và uy tín chính trị nói riêng của người có hành vi bị “hình sự hoá” sẽ bị tổn hại rất nghiêm trọng. Đó là chưa kể nếu người có hành vi bị “hình sự hoá” là người đại diện hay quản lý thì uy tín của doanh nghiệp của họ cũng sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó, doanh nghiệp của họ lại hoạt động trong tình trạng “rắn mất đầu”, rất có nhiều khả năng sẽ dẫn đến phá sản. Và, nếu có doanh nghiệp nào kiên cường vượt qua thì cũng phải mất rất nhiều thời gian cho việc phục hồi lại “tình trạng” hoạt động bình thường. Hơn thế nữa, tạm giữ, tạm giam người có hành vi bị “hình sự hoá” một mặt gây lãng phí thời gian của người này, mặt khác sẽ khiến cho người thân của họ cũng lãng phí thời gian và tiền bạc chạy theo tiến trình kêu oan cho người thân của mình. Trong việc làm này, thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng bị tiêu hao một cách vô ích.</p>
<p style="text-align:justify;">Đối với biện pháp kê biên, niêm phong tài sản cũng gây thiệt hại không kém trong trường hợp vụ án bị “hình sự hoá”. Khi đó, tài sản của người có hành vi bị “hình sự hoá” hoặc doanh nghiệp (có khi lên đến hàng chục tỷ đồng) sẽ không được đưa vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều đó không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích vật chất của những người có liên quan mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của toàn xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;">Xét ở góc độ kinh tế &#8211; xã hội, “hình sự hoá” để lại hậu quả tiêu cực mang tính dây chuyền. Bởi vì, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có các mối quan hệ lợi ích với các doanh nghiệp khác, bạn hàng, người lao động…Một khi doanh nghiệp bị phá sản hoặc lâm vào tình trạng khó khăn do người đại diện hay người quản lý bị bắt giam hoặc điều tra sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền. Khi đó, doanh nghiệp sẽ bị các doanh nghiệp khác và bạn hàng từ chối quan hệ giao dịch, người lao động thì mất việc làm. Đối với những thiệt hại nói trên thì việc đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp hay người có hành vi bị hình sự hoá rất khó bù đắp đúng mức.</p>
<p style="text-align:justify;">Bên cạnh đó, “hình sự hoá” còn có tác động xấu đến môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam vì không chỉ có những doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam bị “hình sự hoá” mà cả các doanh nhân, doanh nghiệp nước ngoài cũng gặp phải tình trạng này. Những vụ án bị “hình sự hoá” sẽ là tấm gương xấu làm nản lòng những người có ý định đầu tư vào Việt Nam, nhất là các dự án lớn, dài hạn, rủi ro cao nhưng có tính chất quan trọng, quyết định đến sự phát triển của đất nước như trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Đối với các doanh nhân, doanh nghiệp đang hoạt động thì không dám mạo hiểm, chấp nhận rủi ro để tìm tới những bước đột phá, tạo động lực cho nền kinh tế mà chỉ hoạt động cầm chừng, chấp nhận hiệu quả thấp nhưng an toàn hơn. Trong trường hợp họ có gặp rủi ro do khách quan cũng không dám “báo cáo” lỗ vì sợ mình trở thành đối tượng bị “hình sự hoá”.</p>
<p style="text-align:justify;">Một hậu quả nữa là tình trạng “hình sự hoá” sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân vào nền công lý nước nhà. Về bản chất, “hình sự hoá” là việc làm oan, sai người vô tội. Tình trạng này khiến cho các cơ quan bảo vệ công lý, chỗ dựa của công dân, các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp thì nay lại trở thành người xâm hại đến lợi ích hợp pháp của họ. Điều này đã làm giảm sút rất nhiều niềm tin của nhân dân vào nền công lý nước nhà.</p>
<p style="text-align:justify;">Làm sao để khắc phục tình trạng “hình sự hoá”? Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng này. Theo nhiều nhà phân tích, tình trạng “hình sự hoá” có nguyên nhân chủ yếu là sự chưa rõ ràng trong quy định về cấu thành tội phạm đối với một số tội danh trong Bộ luật hình sự (xét ở góc độ lập pháp) và sự thiếu chính xác trong việc đánh giá tính chất của hành vi vi phạm pháp luật (dân sự, kinh tế) dẫn đến định tội sai (xét ở góc độ áp dụng pháp luật).</p>
<p style="text-align:justify;">“Hình sự hoá” các giao dịch dân sự, kinh tế về bản chất là sự sai lầm trong việc định tội danh của các cơ quan tiến hành tố tụng. Hậu quả này không thể đổ lỗi hoàn toàn cho những người áp dụng pháp luật (các cơ quan tiến hành tố tụng) mà phần lớn do quy phạm pháp luật quy định về cấu thành tội phạm chưa rõ ràng. Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến việc nhận thức không thống nhất và áp dụng sai (định tội sai) ý nghĩa của điều luật. Định tội là việc <em>xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự</em>. Vì thế, khi nội dung của cấu thành tội phạm trong Bộ luật hình sự không rõ ràng thì không thể tránh khỏi sự nhận thức về nó khác nhau, dẫn đến việc định tội không chính xác. Điểm yếu này của Bộ luật hình sự có thể đưa đến việc làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Như đã đề cập ở trên, hai tội danh thường bị áp dụng sai trong khi “hình sự hoá” là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Vì thế, chúng ta hãy phân tích cấu thành tội phạm của hai tội phạm này trong Bộ luật hình sự hiện hành.</p>
<p style="text-align:justify;">Đối với tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Điều 139 quy định: <em>“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…thì bị phạt…”.</em> Trong lời văn của điều luật này có hai điểm chưa rõ ràng là <em>“thủ đoạn gian dối”</em> và<em> “chiếm đoạt tài sản</em>”. Vì thế, để áp dụng chính xác Điều 139 thì hai điểm chưa rõ ràng này cần phải được giải thích. Tương tự như thế đối với tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Điều 140). So với Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự hiện hành đã mô tả các hành vi khách quan của tội phạm này chứ không quy định chung chung là <em>“lạm dụng tín nhiệm”.</em> Tuy nhiên, điều luật này vẫn chưa làm sáng tỏ nội dung của hành vi <em>“chiếm đoạt”.</em> Bởi vì, không phải cứ hành vi không trả nợ hoặc không trả được nợ nào cũng là “chiếm đoạt”. Để việc áp dụng thống nhất và việc định tội tại hai điều luật này được chính xác, tránh “hình sự hoá” làm oan người vô tội, cần thiết phải có một Thông tư liên tịch (TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an) giải thích về vấn đề này. Trong Thông tư phải làm rõ: <em>1) Thế nào là hành vi chiếm đoạt (biểu hiện); 2) Cách chứng minh ý thức chiếm đoạt; 3) Các trường hợp nhầm lẫn với vi phạm nghĩa vụ thanh toán.</em></p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, ngay cả khi quy phạm pháp luật đã rõ ràng, việc đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng về tính chất pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật trong các giao dịch cũng có thể thiếu chính xác. Ở đây chúng tôi không bàn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng do tiêu cực mà cố tình đánh giá sai tính chất pháp lý của hành vi bị “hình sự hoá” mà chỉ muốn bàn đến trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng do nhận thức sai bản chất của hành vi “chiếm đoạt” nên đã làm oan người vô tội. Trong thực tế có nhiều quan điểm cho rằng nếu hết hạn nêu trong hợp đồng mà bên có nghĩa vụ không thanh toán được nợ thì bị xem là “chiếm đoạt”. Quan điểm này hết sức sai lầm và không có căn cứ pháp lý, bởi vì nếu theo cách hiểu này thì tất cả các bị đơn trong các quan hệ dân sự, kinh tế đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hai tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, việc chứng minh <em>“ý thức chiếm đoạt”</em> của người phạm tội là hết sức quan trọng vì đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của hai tội danh này. Vì đây là dấu hiệu chủ quan cho nên nó phải được đánh giá thông qua những biểu hiện của hành vi khách quan. Khi không có cái nhìn toàn diện về những biểu hiện của hành vi khách quan, các cơ quan tiến hành tố tụng rất dễ đánh giá sai bản chất pháp lý của hành vi vi phạm. Thông thường, người vi phạm bao giờ cũng che giấu ý thức và mục đích “chiếm đoạt”. Việc đánh giá hành vi nào có ý thức và mục “chiếm đoạt” nhưng bị che giấu và hành vi không có ý thức và mục “chiếm đoạt” trong nhiều trường hợp thật không dễ. Theo chúng tôi, để chứng minh được ý thức và mục “chiếm đoạt”, chúng ta có thể giải quyết mấy vấn đề sau (qua những biểu hiện của hành vi khách quan):</p>
<p style="text-align:justify;">+ Người vi phạm có cố ý không thực hiện nghĩa vụ trả nợ không? Có ý định này trước hay sau khi thực hiện giao dịch?</p>
<p style="text-align:justify;">+ Người vi phạm có dịch chuyển quyền sở hữu tài sản trái pháp luật không?</p>
<p style="text-align:justify;">+ Người vi phạm có mất hẳn quyền sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp tài sản của mình không?</p>
<p style="text-align:justify;">+ Người vi phạm có chiếm giữ, sử dụng trái phép, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác như của mình không?</p>
<p style="text-align:justify;">Để chứng minh được những vấn đề trên, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể lưu ý những nội dung sau:</p>
<p style="text-align:justify;">1)     Mục đích của việc vay ghi trong hợp đồng và sử dụng thực tế tài sản vay (hợp pháp hay không hợp pháp);</p>
<p style="text-align:justify;">2)     Lý do không trả được nợ (do khách quan hay chủ quan, có chính đáng hay không);</p>
<p style="text-align:justify;">3)     Trường hợp người vi phạm bỏ trốn thì phải xác định thái độ chủ quan là bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản hay sợ bị cưỡng bức, dùng vũ lực…</p>
<p style="text-align:justify;">4)     Người vi phạm còn khả năng thanh toán nợ không?</p>
<p style="text-align:justify;">Chỉ khi xem xét một cách toàn diện các tình tiết của vụ án và giải quyết đúng đắn những vấn đề trên thì chúng ta mới có đủ cơ sở kết luận người vi phạm có ý thức và mục đích “chiếm đoạt” và hành vi của họ mới có dấu hiệu phạm tội. Trong mọi trường hợp, dù người có hành vi vi phạm không trả được nợ nhưng đó là do khách quan mà chính họ không thể khắc phục được thì không thể kết luận là họ có ý định “chiếm đọat”. Trong trường hợp không chứng minh được sự hiện diện của “chiếm đọat” trong thái độ chủ quan của người vi phạm thì việc khởi tố, điều tra, truy tố… người này có thể được xem là hành vi “hình sự hoá”.</p>
<p style="text-align:justify;"> (nguồn: <a href="http://www.luatsuph.com">http://www . luatsuph.com</a>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/235/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/235/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=235&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/03/hinh-s%e1%bb%b1-hoa-cac-giao-d%e1%bb%8bch-dan-s%e1%bb%b1-kinh-t%e1%ba%bf-tr%c6%b0%e1%bb%9bc-h%e1%ba%bft-xam-h%e1%ba%a1i-t%e1%bb%9bi-quy%e1%bb%81n-va-l%e1%bb%a3i-ich-h%e1%bb%a3p-phap-c%e1%bb%a7a-ng/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>XỬ LÝ ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/02/x%e1%bb%ad-ly-di%e1%bb%83m-nong-chinh-tr%e1%bb%8b-%e2%80%93-xa-h%e1%bb%99i-m%e1%ba%a5y-v%e1%ba%a5n-d%e1%bb%81-ly-lu%e1%ba%adn-va-th%e1%bb%b1c-ti%e1%bb%85n/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/02/x%e1%bb%ad-ly-di%e1%bb%83m-nong-chinh-tr%e1%bb%8b-%e2%80%93-xa-h%e1%bb%99i-m%e1%ba%a5y-v%e1%ba%a5n-d%e1%bb%81-ly-lu%e1%ba%adn-va-th%e1%bb%b1c-ti%e1%bb%85n/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Jul 2009 05:31:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=232</guid>
		<description><![CDATA[NGUYỄN XUÂN TẾ PGS. TS Khoa học chính trị, Trưởng phòng NCKH&#38;HTQT- ĐH Luật TP.HCM Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ với nhau. Tình hình thời sự đang diễn ra hàng ngày trên thế [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=232&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><span style="text-decoration:underline;">NGUYỄN XUÂN TẾ</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">PGS. TS Khoa học chính trị, Trưởng phòng NCKH&amp;HTQT- ĐH Luật TP.HCM</p>
<p style="text-align:justify;">Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ với nhau. Tình hình thời sự đang diễn ra hàng ngày trên thế giới đã chứng minh tầm nhìn xa, trông rộng của Đảng ta trong việc dự đoán sự phát triển của thế giới hiện đại. Ngay cả những sự kiện đã và đang diễn ra (mà gần đây nhất là vấn đề Tây Nguyên các ngày 10/4, 11/4) càng làm cho chúng ta phải mài sắc ý chí cảnh giác cách mạng, phá vỡ âm mưu thâm độc của những lực lượng thù địch câu kết giữa những kẻ phá rối trong nước và thế lực phản động ở ngoài nước.</p>
<p style="text-align:justify;">Chính vì thế, việc xử lý tình huống chính trị, trong đó có xử lý các điểm nóng chính trị– xã hội, cần phải được xây dựng thành lý thuyết, khái quát thành những qui trình, giúp cho các nhà hoạt động chính trị có bản lĩnh trong cuộc sống và có nghệ thuật xử lý thành thạo những vụ việc xảy ra trong thực tiễn. Hoạt động chính trị là một lĩnh vực đặc thù, nó vừa là sự kết hợp sự từng trải kinh nghiệm sống, là nghệ thuật xử lý tình huống, nhưng cũng lại là khoa học. V.I Lê-nin đã từng căn dặn: chính trị phải được thụ thai từ khoa học.</p>
<p style="text-align:justify;">Với tinh thần cầu thị, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết, đặc biệt là đi khảo sát và tổng kết thực tiễn. Địa phương đầu tiên mà chúng tôi tiếp cận là Tây Nguyên. Kịch bản sự kiện ngày 10/4, 11/4 vừa qua xảy ra ở Tây Nguyên càng khắc đậm những đặc điểm của điểm nóng chính trị- xã hội ở địa phương này năm 2001. Tiếp đó là An Giang; sở dĩ chúng tôi chọn An Giang vì đây là nơi đặc trưng cho tình hình người Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long.</p>
<p style="text-align:justify;">Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi về đề tài xử lý điểm nóng chính trị- xã hội nhằm:</p>
<p style="text-align:justify;">- Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận về xử lý tình huống chính trị- xã hội. Làm rõ các khái niệm tình huống chính trị, điểm nóng xã hội, điểm nóng chính trị- xã hội và sự chuyển hóa của chúng.</p>
<p style="text-align:justify;">- Khảo sát thực tế, xác định những nguyên nhân khách quan, chủ quan. Từ đó tìm ra được qui trình giải pháp giải quyết điểm nóng chính trị- xã hội. Hay nói cách khác là tổng kết thực tiễn, đúc rút bài học xử lý tình huống chính trị ở từng địa bàn.</p>
<p style="text-align:justify;">- Trên cơ sở đó giúp cho người cán bộ lãnh đạo chính trị có nhận thức đúng và biết cách xử lý khi điểm nóng chính trị- xã hội xảy ra hoặc khả năng chủ động phòng ngừa để không xảy ra các tình huống chính trị.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>A. MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN1</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong>I. KHÁI NIỆM TÌNH HUỐNG CHÍNH TRỊ, ĐIỂM NÓNG XÃ HỘI, ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong>1. Tình huống chính trị </strong></p>
<p style="text-align:justify;">Chính trị là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người. Nếu trong điều kiện bình thường thì hoạt động của các chủ thể cầm quyền sẽ diễn ra theo qui trình: ra quyết định, triển khai thực hiện, tổng kết, rút kinh nghiệm và chuẩn bị ra quyết định mới… Các quá trình sau lại tiếp tục diễn ra như vậy. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải lúc nào các chủ thể cầm quyền cũng tuân theo một qui trình như vậy mà trong quá trình triển khai các bước, họ có thể còn gặp phải những trở ngại như các hiện tượng: nhân dân khiếu kiện, biểu tình chống đối; lực lượng phản động gây bạo loạn; bản thân các chủ thể cầm quyền thoái hoá, biến chất, chia bè cánh chống đối lẫn nhau…; trong những điều kiện nhất định có thể dẫn đến tình huống thiếu chủ thể cầm quyền…. Những hiện tượng này gây nên sự bất ổn về mặt chính trị- xã hội hoặc có khả năng trực tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị- xã hội, đòi hỏi phải áp dụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết.</p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy<em>, tình huống chính trị là những sự kiện, biến cố không bình thường, diễn ra trong đời sống chính trị- xã hội, gây nên sự bất ổn định hoặc có khả năng trực tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị- xã hội, đòi hỏi con người phải áp dụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết.</em></p>
<p style="text-align:justify;">Tình huống chính trị thường gắn với sự khủng hoảng chính trị. Đây cũng là thời điểm, hoàn cảnh dễ nảy sinh xung đột, rối loạn xã hội, có nguy cơ đe dọa đến sự ổn định bền vững của chế độ. Tình huống chính trị còn là những bùng phát gây bất lợi về chính trị trong một phạm vi nhất định.</p>
<p style="text-align:justify;">Tình huống chính trị có thể trực tiếp nảy sinh trong lĩnh vực chính trị như những mâu thuẫn giữa các lực lượng ngay trong bộ máy cầm quyền, sự chống đối của các thế lực trong và ngoài nước; sự chống đối của nhân dân với những người nắm giữ quyền lực, các cơ quan quyền lực và thể chế chính sách của nhà nước. Chẳng hạn, khi kinh tế khủng hoảng, trì trệ có thể dẫn đến sự bất ổn về mặt chính trị. Những vấn đề dân tộc, tôn giáo nếu không có giải pháp đúng cũng có thể dẫn đến những xung đột về chính trị.<span id="more-232"></span></p>
<p style="text-align:justify;">Tình huống chính trị có thể biểu hiện ở những dấu hiệu cơ bản sau :</p>
<p style="text-align:justify;">- Sự bất mãn, chống đối của nhân dân với chính quyền nhà nước;</p>
<p style="text-align:justify;">- Bộ máy quyền lực tê liệt hoặc thiếu chủ thể cầm quyền (khoảng trống quyền lực );</p>
<p style="text-align:justify;">- Những chuẩn mực luật pháp, đạo đức, văn hoá không được tuân thủ;</p>
<p style="text-align:justify;">- Khủng hoảng về tư tưởng, niềm tin gây tổn hại đến ý thức hệ chủ đạo của xã hội;</p>
<p style="text-align:justify;">- Các lực lượng tiêu cực, phản động có điều kiện trỗi dậy gây mất an ninh xã hội, làm tăng nguy cơ đối với sự bền vững của chế độ xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;">Một tình huống chính trị xuất hiện không nhất thiết phải có đầy đủ các dấu hiệu trên mà có thể chỉ cần một vài dấu hiệu nào đó, gây nên bất ổn định chính trị- xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>2.</strong> <strong>Điểm nóng xã hội và điểm nóng chính trị– xã hội</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Trong những năm gần đây, thuật ngữ “điểm nóng” được sử dụng trong một số văn bản của các cơ quan Đảng, Nhà nước và khá phổ biến trong các văn bản của những cơ quan bảo vệ pháp luật như: Thanh tra, Viện kiểm sát, Công an, Tòa án và cả trong đời sống sinh hoạt thường ngày.</p>
<p style="text-align:justify;">Thế nhưng cho đến nay chưa có cơ quan nào, ngành nào (kể cả những cơ quan có trách nhiệm giải quyết) đưa ra khái niệm đầy đủ, chính xác về “điểm nóng” để làm cơ sở cho việc phân loại, xác định chính xác diễn biến tình hình nơi xảy ra vụ việc để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp.</p>
<p style="text-align:justify;">Nhiều địa phương, ngành đã xác định “điểm nóng” theo các tiêu thức riêng của mình, thậm chí theo quan điểm cá nhân của từng người. Do vậy, việc đánh giá diễn biến tình hình ở cơ sở không đồng nhất, có nơi chỉ “sốt nhẹ” nhưng đã xác định là “điểm nóng”, ngược lại có nơi “nóng” thật sự nhưng vì những lý do khác nhau mà không được xác định là “điểm nóng”.</p>
<p style="text-align:justify;">Cả hai khuynh hướng trên đều dẫn tới hậu quả là cấp ủy đảng và chính quyền các cấp đã có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo không phù hợp, từ đó làm giảm hiệu quả, hiệu lực của các quyết định giải quyết. Thậm chí có nơi, có lúc còn làm tình hình thêm phức tạp.</p>
<p style="text-align:justify;">Đã đến lúc cần phải có một định nghĩa (hoặc khái niệm) về “điểm nóng” và xác định các tiêu chí, các yếu tố đặc trưng của “điểm nóng” để làm cơ sở cho việc đánh giá diễn biến tình hình khiếu nại, tố cáo, diễn biến các mâu thuẫn xảy ra trong từng địa phương, từng ngành và toàn quốc góp phần vào việc đánh giá, phân loại chính xác cán bộ, đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng. Đồng thời, cần đầu tư nghiên cứu để đề ra các biện pháp giải quyết có hiệu quả “điểm nóng”, cũng như các biện pháp làm hạn chế phát sinh “điểm nóng”.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>a. Điểm nóng xã hội :</em></p>
<p style="text-align:justify;">Khi điểm nóng xã hội nổ ra thường có những biểu hiện sau :</p>
<p style="text-align:justify;">+ Đời sống xã hội trong trạng thái không bình thường, bất ổn định, có lúc rối loạn;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Sự phản ứng, xung đột của đám đông, của các lực lượng không còn tự kiềm chế được trở thành sức mạnh, áp lực chống đối lẫn nhau;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Hành vi của đám đông quần chúng đã vượt qua ngoài khuôn khổ của pháp luật và chuẩn mực văn hoá đạo đức;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Diễn ra trong không gian và thời gian nhất định, có khả năng lan tỏa sang nơi khác;</p>
<p style="text-align:justify;">Từ những biểu hiện trên có thể khái quát: điểm nóng xã hội là đời sống xã hội trong trạng thái không bình thường, bất ổn định, rối loạn, diễn ra sự xung đột, chống đối giữa các lực lượng với những hành vi không còn tự kiềm chế được, đã vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật và chuẩn mực văn hoá đạo đức, diễn ra tại một địa điểm, trong một thời gian nhất định và có khả năng lan tỏa sang nơi khác.</p>
<p style="text-align:justify;">Điểm nóng xã hội có thể diễn ra ở những địa bàn và trong những lĩnh vực khác nhau. Nó có thể phát sinh ở khu vực nông thôn, miền núi hay thành thị, ở các xí nghiệp hay trường học… nó có thể diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, chính trị hay xã hội… Điểm nóng xảy ra ở các khu vực trên được gọi chung là điểm nóng xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>b. Điểm nóng chính trị- xã hội :</em></p>
<p style="text-align:justify;">Điểm nóng chính trị- xã hội là điểm nóng xã hội diễn ra trong lĩnh vực chính trị- xã hội khi mà sự chống đối của đám đông quần chúng của các lực lượng đối lập đã hướng trực tiếp vào những người nắm quyền lực chính trị, cơ quan quyền lực và thể chế chính sách của chính quyền nhà nước.</p>
<p style="text-align:justify;">Trong thực tiễn thường xảy ra các điểm nóng xã hội nhiều hơn là các điểm nóng chính trị- xã hội. Còn điểm nóng chính trị- xã hội xảy ra ít hơn nhưng phức tạp và quyết liệt hơn vì nó liên quan trực tiếp tới quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, điểm nóng xã hội trong các lĩnh vực khác đều có khả năng trực tiếp trở thành điểm nóng chính trị- xã hội. Chẳng hạn, những cuộc đình công, bãi công của người lao động chống giới chủ, học sinh bãi khoá chống ban lãnh đạo nhà trường, nông dân tranh chấp đất đai với nhau… nếu không có cách xử lý đúng đều có thể chuyển thành cuộc đấu tranh chống chính chính quyền nhà nước. Như vậy, nếu chúng ta xử lý tốt điểm nóng xã hội thì sẽ hạn chế sự phát sinh điểm nóng chính trị- xã hội. Điểm nóng xã hội có thể có nguồn gốc từ những tranh chấp dân sự, từ sự khiếu kiện của nhân dân không được giải quyết kịp thời, để dây dưa, kéo dài, gây tích đọng mâu thuẫn và bùng phát thành điểm nóng chính trị- xã hội. Do đó, để điểm nóng xã hội và điểm nóng chính trị- xã hội không nổ ra cần giải quyết tốt những tranh chấp về mặt dân sự, giải quyết kịp thời những khiếu kiện của nhân dân; ngăn ngừa sự chống đối của các lực lượng phản động.</p>
<p style="text-align:justify;">Từ sự phân tích trên có thể cho thấy, điểm nóng có nổ ra hay không, mức độ như thế nào không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện, nhân tố khách quan ngoài chủ thể cầm quyền mà nó còn phụ thuộc vào chính chủ thể cầm quyền. Ngay trong điều kiện khủng hoảng xã hội, hay khủng hoảng chính trị xã hội, nếu chủ thể cầm quyền có giải pháp đúng thì cũng có thể không phát sinh điểm nóng, hoặc điểm đóng có nổ ra thì tác hại cũng không lớn. Ngược lại nếu chủ thể cầm quyền áp dụng giải pháp sai lầm thì sẽ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng và khó tránh khỏi nổ ra điểm nóng xã hội hoặc điểm nóng chính trị- xã hội. Thực tế cho thấy, khi thể chế chính trị quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ những người cầm quyền thoái hoá biến chất thì nhân dân nổi dậy chống lại, lực lượng đối lập lợi dụng cơ hội lật đổ lực lượng cầm quyền. Và do vậy, điểm nóng bùng phát.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>II. XỬ LÝ CÁC ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong>1. Những yêu cầu xử lý điểm nóng chính trị &#8211; xã hội</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Thứ nhất</em>, cần phải áp dụng các giải pháp làm cho điểm nóng nguội dần và hạn chế sự lan tỏa sang nơi khác. Biện pháp này còn được gọi là hạ nhiệt độ “rút ngòi nổ”, ví như phải dập tắt một đám cháy sao cho nó không bùng phát lớn hơn, không lan tỏa sang nơi khác mà nguội dần đi. Các giải pháp hành động trong trường hợp này phải mau lẹ, chính xác; phải hạn chế một cách tối đa những thiệt hại có thể xảy ra.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Thứ hai</em>, phải khắc phục tình trạng bất ổn định, tạo lập sự ổn định chính trị xã hội làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế- xã hội. Sự ổn định có thể ở hai trạng thái:</p>
<p style="text-align:justify;">+ Ổn định bề ngoài, nhất thời nhưng bên trong lại chứa đựng nguy cơ bùng phát bất ổn định lớn hơn. Ổn định tạo tiền đề cho sự phát triển và đảm bảo cho sự ổn định bền vững lâu dài.</p>
<p style="text-align:justify;">+ Trạng thái thứ hai mới thật sự là yêu cầu xử lý điểm nóng chính trị- xã hội. Ổn định chính trị là nhằm mục tiêu phát triển kinh tế và chỉ trên cơ sở phát triển kinh tế mới có thể đảm bảo cho sự định hướng lâu dài về chính trị- xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Thứ ba</em>, cần tạo ra những tiền đề, nhân tố để điểm nóng không tái phát. Để đạt yêu cầu này thì những giải pháp xử lý điểm nóng không phải chỉ mang tính chất cấp thiết; nhất thời, “chữa cháy”, mà có ý nghĩa chiến lược, cơ bản và lâu dài. Thường phải có những giải pháp chữa trị căn nguyên sinh ra điểm nóng và kết hợp với tổng thể các giải pháp khác để cho đời sống xã hội phát triển vững mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Thứ tư, </em>cần củng cố sự bền vững của cơ sở chính trị và tăng cường hiệu lực của hệ thống chính trị. Xử lý điểm nóng chính trị- xã hội không chỉ với mục tiêu thiết lập sự ổn định chính trị, mà cơ bản hơn là củng cố sự bền vững của cơ sở chính trị. Sự bền vững ấy chính là chính sách an dân, chiếm được lòng dân và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân với nhà nước huy động sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước. Và cũng trên cơ sở đó mà củng cố và tăng cường hiệu lực của hệ thống chính trị, sao cho sau khi xử lý điểm nóng, cơ sở chính trị và hệ thống chính trị mạnh hơn trước.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>2. Quy trình, giải pháp xử lý điểm nóng chính trị- xã hội </strong></p>
<p style="text-align:justify;">Xử lý điểm nóng chính trị- xã hội có thể trải qua các bước sau:</p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong>Bước một: Nắm tình hình, phân tích nguyên nhân và nhận dạng mâu thuẫn</strong></em></p>
<p style="text-align:justify;">Khi điểm nóng nổ ra, để có căn cứ cho những giải pháp đúng thì việc nắm tình hình có ý nghĩa quyết định. Cần có thông tin chính xác về các mặt:</p>
<p style="text-align:justify;">- Số lượng quần chúng tham gia biểu tình, chống đối; thành phần tham gia, đối tượng tham gia; hình thức tổ chức lực lượng…</p>
<p style="text-align:justify;">- Họ nêu những yêu sách gì? Những yêu sách ấy phải do cơ quan nào giải quyết?</p>
<p style="text-align:justify;">- Ai là người cầm đầu? Số lượng những người qúa khích? Những âm mưu vàthủ đoạn? Họ có quan hệ và được sự chỉ đạo của các lực lượng phản động trong nước và ngoài nước hay không?</p>
<p style="text-align:justify;">Phương thức nắm tình hình có thể thông qua chính quyền, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở, dựa vào dân; bằng nghiệp vụ chuyên môn của cơ quan công an và các cơ quan an ninh khác… Cần phải bám sát địa bàn, thông tin kịp thời những diễn biến về cơ quan tham mưu tổng hợp để lập ra những phương án xử lý.</p>
<p style="text-align:justify;">Trên cơ sở tổng hợp thông tin về nhiều mặt, người chỉ huy và bộ phận tham mưu tổng hợp phải đánh giá đúng nguyên nhân phát sinh điểm nóng. Có thể phân loại các nguyên nhân :</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan: </em>Nguyên nhân khách quan có thể do điều kiện kinh tế, xã hội gặp khó khăn, do dân trí thấp lại bị kẻ xấu, phản động lôi cuốn, kích động… Nguyên nhân chủ quan thuộc về những khiếm khuyết, sai lầm của chính sách thể chế của các cơ quan quyền lực và những người nắm giữ quyền lực.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài: </em>Nguyên nhân bên trong thường được xem xét từ những mâu thuẫn nảy sinh trong phạm vi cơ sở, địa phương hoặc trong phạm vi toàn quốc. Đó có thể là những mâu thuẫn về sắc tộc tôn giáo; sự bất công giữa các tầng lớp dân cư, giữa lao động và giới chủ, giữa quần chúng nhân dân và cán bộ nắm giữ quyền lực&#8230; Nguyên nhân bên ngoài có thể là do sự biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội có tính khu vực và toàn cầu tác động đến từng quốc gia; do sự tác động của các lực lượng thù địch quốc tế …</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp: </em>Nguyên nhân sâu xa của một điểm nóng chính trị- xã hội có thể là do sự hận thù giai cấp trong những năm chiến tranh cách mạng, lực lượng phản động còn lưu vong ở nước ngoài móc nối tác động vào trong nước. Nguyên nhân sâu xa cũng có thể do những thể chế hiện hành (theo nghĩa hẹp) đã lạc hậu, không kịp thay đổi, phát sinh những tiêu cực, ách tắc trong sản xuất đời sống. Còn nguyên nhân trực tiếp thì dễ nhận thấy khi nổ ra điểm nóng; chẳng hạn điểm nóng Thái Bình xảy ra năm 1998 có nguyên nhân trực tiếp là do cán bộ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, nhưng nó lại là hậu quả của cả một thể chế chưa được đổi mới.</p>
<p style="text-align:justify;">Điểm nóng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên có nguyên nhân trực tiếp từ sự phân hóa giàu nghèo đồng bào dân tộc ít người với những dân từ nơi khác đến khai phá vùng Tây Nguyên. Thế nhưng nguyên nhân sâu xa của vấn đề lại từ lực lượng Fulro trước đây chạy ra nước ngoài, nay trở lại móc nối với lực lượng bên trong, kích động đồng bào gây bạo loạn.</p>
<p style="text-align:justify;">Sự phân định các nguyên nhân trên cũng có ý nghĩa tương đối vì giữa chúng có quan hệ và chuyển hoá lẫn nhau. Sau khi phân tích nguyên nhân cần xác định những mâu thuẫn xem điểm nóng đó chứa đựng mâu thuẫn đối kháng hay không đối kháng, mâu thuẫn giữa nội bộ nhân dân hay mâu thuẫn giữa ta và địch, mức độ của các mâu thuẫn và sự đan xen của các mâu thuẫn ấy. Trên cơ sở nhận dạng, xác định đúng mâu thuẫn mới có căn cứ để định ra quan điểm, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo, phương thức giải quyết và tổ chức lực lượng thực hiện. Nếu như xác định sai mâu thuẫn thì toàn bộ nhận thức và hành động sẽ sai lầm, hậu họa sẽ không nhỏ, điểm nóng sẽ không được giải quyết mà còn bùng phát lớn hơn.</p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong>Bước hai </strong></em><em>: </em><strong><em>Áp dụng những biện pháp rút ngòi và hạn chế sự lan tỏa sang nơi khác</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><em>a. Trước hết, phải thiết lập được sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, phát huy hiệu lực của hệ thống chính trị để giữ vững quyền lực chính trị.</em></p>
<p style="text-align:justify;">Người chỉ huy, người đứng đầu có vị trí đặc biệt quan trọng. Người chỉ huy có đủ bản lĩnh, có phương pháp đúng sẽ thống nhất được các quan điểm, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo và tổ chức lực lượng thực hiện, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động. Nếu không có người chỉ huy đáp ứng yêu cầu giải quyết công việc, khắc phục sự rối ren, phức tạp diễn ra ngay bên trong nội bộ thì khó có thể giải quyết được sự phức tạp, rối loạn bên ngoài xã hội. Trong trường hợp cần thiết có thể phải thay người chỉ huy. Tuy nhiên việc thay thế người chỉ huy cũng có thể là một sai lầm vì lực lượng đối lập đấu tranh chống lực lượng cầm quyền thường chĩa mũi nhọn vào những người đứng đầu cứng rắn nhất. Nếu chúng ta thay thế người đứng đầu bằng một người khác yếu hơn thì rất dễ bị đối phương đánh đổ. Cứ như vậy người thay thế tiếp theo lại yếu hơn nữa&#8230; và cuối cùng dẫn đến sự mất quyền lực .</p>
<p style="text-align:justify;">Xử lý điểm nóng chính trị- xã hội cần có sự chỉ đạo thống nhất của các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở. Bởi vì, đây là một vấn đề nhạy cảm, phạm vi tác động không chỉ ở nơi xảy ra điểm nóng mà còn ảnh hưởng đến các nơi khác trong phạm vi cả nước, thậm chí nó có thể ảnh hưởng đến an ninh khu vực và quốc tế. Do vậy, cần phải có sự thống nhất, phối hợp của cả hệ thống chính trị mới có thể tìm ra cách giải quyết đúng đắn.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>b. Lựa chọn phương thức giải quyết- những lực lượng và phương tiện cần thiết :</em></p>
<p style="text-align:justify;">Trước hết cần xác định rõ phương thức giải quyết, đó là tuyên truyền, thuyết phục hay trấn áp, hoặc kết hợp cả hai phương thức trên. Nếu như xác định dùng biện pháp tuyên truyền thuyết phục là chính thì lực lượng tham gia giải quyết cơ bản là Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Không nhất thiết phải huy động lực lượng công an và quân đội, hoặc chỉ sử dụng một bộ phận nhỏ để hỗ trợ cùng các lực lượng khác, để làm công tác bảo vệ. Nếu như xác định dùng biện pháp trấn áp là chính thì công an, quân đội là lực lượng chủ công. Nếu kết hợp cả hai phương pháp trên thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà tổ chức phối hợp các lực lượng. Điều quan trọng là phải có sự phân công và phối hợp giữa các lực lượng sao cho phát huy mọi thế mạnh của từng lực lượng để tạo nên sức mạnh tổng hợp.</p>
<p style="text-align:justify;">Việc sử dụng các phương tiện trong chính trị cũng rất quan trọng, đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng. Đây là một thứ vũ khí sắc bén không chỉ trong hoạt động chính trị nói chung mà nó còn phải phát huy được tính lợi hại trong quá trình xử lý các điểm nóng chính trị- xã hội. Thông qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí và các phương tiện truyền thông khác, hệ thống thông tin đại chúng có thể giúp cho quần chúng phân định đúng sai, định hướng dư luận xã hội để tập hợp lực lượng, cô lập đối phương… Cách sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng là nghệ thuật chính trị. Tùy điều kiệu cụ thể mà có thể có cách thức sử dụng công cụ này khác nhau. Điều cần lưu ý ở đây là phải nắm chắc và chi phối phương tiện thông tin đại chúng. Nếu như công cụ này để rơi vào tay đối phương thì sự thất bại là khó tránh khỏi.</p>
<p style="text-align:justify;">Việc lựa chọn các phương thức, các lực lượng và phương tiện nhằm giải quyết hai vấn đề sau :</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Để giải tán đám đông quần chúng</em>, tùy những điều kiện cụ thể mà áp dụng các giải pháp khác nhau:</p>
<p style="text-align:justify;">+ Nếu những yêu sách của quần chúng là chính đáng thì có thể chấp nhận những yêu sách ấy và giải quyết kịp thời những vấn đề có thể giải quyết được. Những vấn đề chưa thể giải quyết ngay cần cam kết với quần chúng sẽ sớm đưa ra xem xét. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nếu làm như vậy, đám đông, quần chúng sẽ tự giải tán …</p>
<p style="text-align:justify;">+ Đưa cán bộ vào đám đông vận động, lôi kéo những quần chúng tích cực, những người bị động, hùa theo; tách họ khỏi lực lượng cầm đầu quá khích; yêu cầu họ trở về nơi làm việc hoặc nơi cư trú; đồng thời, nhận diện răn đe, cô lập những người quá khích cầm đầu.</p>
<p style="text-align:justify;">+ Trong trường hợp nguy cấp có thể phải dùng đến sức mạnh của lực lượng công an, quân đội, buộc mọi người phải giải tán.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Đối sách đối với những người cầm đầu đám đông quần chúng, </em>có thể áp dụng các giải pháp sau:</p>
<p style="text-align:justify;">+ Thương lượng với người đứng đầu nếu như người đó đại diện cho yêu sách chính đáng của đám đông quần chúng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, rất có thể trong lúc đối đầu giữa hai bên bọn họ có thể có hành vi tráo trở không thực hiện cam kết hoặc xuyên tạc những nội dung thương lượng để kích động quần chúng, nâng cao vị thế của mình. Do vậy, cần có sự đề phòng cần thiết.</p>
<p style="text-align:justify;">+ Nếu những người đứng đầu là những phần tử xấu, lợi dụng hoàn cảnh để xuyên tạc sự thật, kích động quần chúng, gây nên bất ổn định, rối loạn xã hội thì có thể vạch trần thủ đoạn của họ để cho quần chúng nhận thức rõ đúng, sai. Song nếu như không có đủ chứng lý để vạch tội họ thì sẽ gây tác dụng ngược chiều, quần chúng sẽ phản đối và càng làm tăng thêm vai trò của người đứng đầu.</p>
<p style="text-align:justify;">+ Trong trường hợp cần thiết có thể bắt giữ người đứng đầu. Tuy nhiên, nếu như việc bắt giữ được thực hiện không đúng lúc, không đúng pháp luật thì có thể kích thích thêm sự chống đối của quần chúng. Việc bắt giữ người đứng đầu phải hợp pháp, phải giải thích, tuyên truyền cho quần chúng thấy được việc làm đó là cần thiết và đúng đắn. Nếu như trong quá trình xử lý lại hữu khuynh, do dự, thiếu kiên quyết bắt giữ người đứng đầu trong những trường hợp cần thiết thì tình hình có thể sẽ trở nên phức tạp hơn.</p>
<p style="text-align:justify;">+ Trong trường hợp người đứng đầu là những phần tử phản động thì chỉ khi bắt được người đứng đầu mới có thể giải quyết được điểm nóng. Vấn đề quan trọng là cần phải chọn những thời điểm thích hợp tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể.</p>
<p style="text-align:justify;">+ Giải tán đám đông quần chúng và đối sách với người đứng đầu là hai giải pháp có quan hệ mật thiết với nhau. Người đứng đầu chỉ dựa vào đám đông quần chúng mới có sức mạnh, và ngược lại, đám đông chỉ có sức mạnh khi có tổ chức, có người đứng đầu. Nếu như chúng ta giải quyết tốt việc giải tán đám đông, tách quần chúng ra khỏi người đứng đầu thì có điều kiện đối sách với người đứng dầu. Ngược lại, khi có đối sách đúng với người đứng đầu thì lại có điều kiện để giải tán đám đông quần chúng. Thực chất ở đây là thể hiện mối quan hệ giáo dục tuyên truyền, thuyết phục với số đám đông quần chúng và áp dụng những biện pháp chuyên chính khi cần thiết.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>c. Chuẩn bị phương án xử lý tình huống xấu nhất có thể xảy ra ngăn ngừa nguy cơ lan tỏa sang nơi khác trong thực tế thường phải chuẩn bị ít nhất là ba phương án giải quyết.</em></p>
<p style="text-align:justify;">Lúc đầu giải quyết theo phương án tốt nhất, nếu như tình hình phức tạp có thể chuyển sang phương án thứ hai hoặc thứ ba… Cần phải chuẩn bị cả những phương án xử lý tình huống xấu nhất để khi xảy ra có thể ứng phó kịp thời, không bị rơi vào tình trạng bị động, lúng túng hoặc trở tay không kịp.</p>
<p style="text-align:justify;">Cần có biện pháp kiềm chế không để cho điểm nóng bùng phát lớn và lan tỏa sang nơi khác. Có thể dùng lực lượng vũ trang đóng quân gần hoặc xung quanh điểm nóng để yểm trợ khi cần thiết, để khu biệt điểm nóng với những vùng lân cận. Để hạn chế sự lan tỏa của điểm nóng còn có thể áp dụng những giải pháp như tăng cường những nhân tố chính trị, xã hội, tăng cường công tác tư tưởng giải quyết đời sống… ở những vùng lân cận.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>d. Những phương châm cần lưu ý khi áp dụng phương thức, biện pháp giải quyết :</em></p>
<p style="text-align:justify;">- Cần phải kết hợp sự kiên định về nguyên tắc với sự mềm dẻo, linh hoạt về biện pháp. Về nguyên tắc chỉ đạo, có những nguyên tắc chung về quan điểm, đường lối, có những nguyên tắc chỉ đạo cụ thể cho từng điểm. Cần phải có sự vận dụng mềm dẻo, linh hoạt theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đặc biệt là không được mất phương hướng chính trị, nản chí đấu tranh khi gặp những tình huống phức tạp. Cần kiên định lập trường kiên quyết giữ vững quyền lực chính trị. Nhưng những giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề lại phải dựa trên nguyên tắc “tùy cơ ứng biến”, không được cứng nhắc, máy móc.</p>
<p style="text-align:justify;">- Trước hết, cần chọn giải pháp tốt nhất (thượng sách) để giải quyết, không được ngay từ đầu lựa chọn giải pháp bất đắc dĩ (hạ sách). Đối với trường hợp nhân dân biểu tình chống đối chính quyền có lẽ không nên áp dụng ngay từ đầu những giải pháp cưỡng chế, trấn áp mà trước hết cần phải áp dụng giải pháp tuyên truyền, thuyết phục, thương lượng&#8230; Nhưng đối với trường hợp lực lượng phản động gây bạo loạn, chống đối chính quyền nhà nước thì có thể việc dùng lực lượng công an, quân đội dập tắt ngay từ đầu lại là cần thiết.</p>
<p style="text-align:justify;">- Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải dựa vào dân. Khi giải quyết điểm nóng, việc làm phân hoá quần chúng lôi cuốn được quần chúng về phía mình là một điều có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi vì chỉ khi tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của đa số quần chúng thì chúng ta mới có thể giải quyết được điểm nóng. Do vậy, cần phải kiên nhẫn, biết tin vào dân ngay cả khi họ ở trong trạng thái giận dữ, có những hành vi bất nhã; xúc phạm đến chúng ta.</p>
<p style="text-align:justify;">Cần phải tuyên truyền, thuyết phục họ, kiềm chế bản thân và đặc biệt không được có những hành vi trả đũa tương xứng.</p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong>Bước ba</strong></em><strong>: </strong><em><strong>Khắc phục hậu quả khi điểm nóng được dập tắt</strong></em><strong>.</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Khi giải tán được đám đông và xử lý những người đứng đầu thì điểm nóng về cơ bản đã được dập tắt. Công việc tiếp theo là phải áp dụng những giải pháp để đưa xã hội trở lại hoạt động ổn định bình thường.</p>
<p style="text-align:justify;">Trước hết, phải đưa hoạt động cơ bản ở những nơi đã xảy ra điểm nóng trở lại với nhịp điệu bình thường trước đó. Nếu như đó là các nhà máy, xí nghiệp thì phải đưa sản xuất trở lại bình thường, công nhân trở lại làm việc.</p>
<p style="text-align:justify;">Nếu đó là trường học thì các lớp học phải được mở lại, học sinh đi học, thầy giáo lên lớp giảng bài… Trên cơ sở khôi phục các hoạt động cơ bản ấy mới có điều kiện ổn định các mặt khác.</p>
<p style="text-align:justify;">Khắc phục những thiệt hại về người và của nếu có xảy ra. Các công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống nếu bị hư hại phải được sửa chữa; những người bị thương phải được cứu chữa, người bị chết phải được giải quyết hậu quả. Giải quyết tốt những công việc này mới tạo điều kiện ổn định xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;">Điều quan trọng là phải phân định rõ đúng sai, xử lý đúng mức những người vi phạm trong khi nổ ra điểm nóng. Như vậy công tác thanh tra phải được triển khai kịp thời và phải có kết luận rõ ràng. Kết luận của thanh tra cần được công bố công khai, có sự thảo luận, đối chứng, làm rõ đúng sai. Để cho những kết luận của thanh tra đúng với thực tế khách quan, được đa số nhân dân đồng tình, ủng hộ, những người sai phạm cần phải thừa nhận những sai lầm khuyết điểm của mình.</p>
<p style="text-align:justify;">Sau công tác thanh tra, cần tiến hành xử lý những người vi phạm. Tùy theo mức độ vi phạm của từng người mà có thể có mức xử lý khác nhau từ hình thức kiểm điểm trước nhân dân, xử phạt hành chính, tới hình thức truy tố trước pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;">Thực tế cho thấy cần phải xử lý nghiêm minh cả hai phía: cán bộ mắc sai lầm và những người qúa khích vi phạm pháp luật khi nổ ra điểm nóng. Nếu như nguyên nhân của sự chống đối từ phía nhân dân là do cán bộ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ thì trước hết phải xử lý nghiêm minh đối với cán bộ rồi sau đó mới xử lý những người do quá khích vi phạm pháp luật. Trong trường hợp điểm nóng nổ ra do bọn phản dộng, kẻ xấu lợi dụng, kích động quần chúng thì khi xử lý cần phân tích rõ những hành vi gây rối của họ để cho mọi người thấy rõ đúng sai; mặt khác, cũng phải thừa nhận những khiếm khuyết của cán bộ, của thể chế chính sách để kẻ xấu lợi dụng và sửa chữa những khiếm khuyết ấy.</p>
<p style="text-align:justify;">Nếu như trong quá trình xử lý có sự thiên vị, dung túng, bao che hoặc là xử quá nặng mặt này hoặc quá mức mặt kia thì khó có thể tạo đựơc sự ổn định và sẽ để lại những hậu qủa lâu dài cho đời sống xã hội.</p>
<p style="text-align:justify;">Giải quyết những vấn đề trên chỉ đem lại những kết quả tích cực khi thực hiện nhất quán các nguyên tắc: công khai, dân chủ, công minh theo đúng pháp luật và các chuẩn mực văn hoá đạo đức.</p>
<p style="text-align:justify;">Đồng thời với quá trình thanh tra, xử lý là quá trình thanh lọc cán bộ phạm sai lầm, lựa chọn cán bộ thay thế, củng cố các tổ chức chính trị- xã hội như Đảng, chính quyền các đoàn thể nhân dân.</p>
<p style="text-align:justify;">Khắc phục những thiệt hại về vật chất có thể nhìn thấy được đã là những công việc khó khăn, phức tạp, nhưng khắc phục những tổn thương về tư tưởng, tình cảm con người sau điểm nóng lại là vấn đề dai dẳng và phức tạp hơn nhiều.</p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong>Bước bốn: Rút kinh nghiệm, dự báo tình hình và áp dụng những giải pháp để điểm nóng không tái phát</strong></em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>a. Qua điểm nóng cần tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm trên những mặt sau:</em></p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Ưu, nhược điểm của cán bộ lãnh đạo</em>:</p>
<p style="text-align:justify;">Qua xử lý điểm nóng sẽ thấy rõ ai là người kiên định, sáng tạo, linh hoạt, ai là người thụ động, nhu nhược, hữu khuynh… và từ đó có thể loại trừ những cán bộ bất tài, bất lực, tuyển lựa cán bộ có năng lực phẩm chất đảm nhiệm công việc trong các cơ quan Đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Qua điểm nóng còn có thể thấy rõ được ưu nhược điểm của công tác cán bộ trong cả giai đoạn trước đó.</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Đánh giá ưu, nhược điểm của hệ thống tổ chức quyền lực</em>:</p>
<p style="text-align:justify;">Thực tế cho thấy, trong điều kiện bình thường, nếu nhìn nhận hệ thống tổ chức quyền lực người ta dễ lầm tưởng là nó rất hùng mạnh. Không ít những địa phương nơi mà những điểm nóng nổ ra chỉ trước đó ít lâu được công nhận Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, chính quyền và các đoàn thể vững mạnh… nhưng khi điểm nóng nổ ra thì hệ thống đó lại tỏ ra bất lực và tan rã rất nhanh. Qua điểm nóng cũng cho thấy mức độ nhạy cảm chính trị của các cấp từ trung ương đến cơ sở và hiệu lực của các cấp ấy.</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Đánh giá ưu nhược điểm của phương thức lãnh đạo, chỉ đạo:</em></p>
<p style="text-align:justify;">Chúng ta thường nêu ra công thức: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhằm mục đích thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Nhưng trên thực tế, các chủ thể quyền lực ở một số nơi lại tỏ ra quan liêu, xa dân, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân nên nhân dân biểu tình chống lại. Qua điểm nóng còn cho thấy sự cồng kềnh, chồng chéo, sự hoạt động kém hiệu lực và bất lực của hệ thống chính trị.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Đánh giá về những khiếm khuyết và bất cập của chính sách, thể chế và luật pháp nhà nước:</em></p>
<p style="text-align:justify;">Những ưu nhược điểm của cán bộ, của hệ thống tổ chức quyền lực và phương thức hoạt động của hệ thống ấy thường có nguồn gốc từ chính sách, thể chế và luật pháp nhà nước. Qua những điểm nóng ở nông thôn chúng ta thấy rất rõ những khiếm khuyết, bất cập về chính sách, thể chế của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Qua điểm nóng tại các tỉnh Tây Nguyên cho thấy cần phải hoàn chỉnh chính sách đối với đồng bào các dân tộc: những điểm nóng tôn giáo cho thấy cần phải hoàn thiện luật pháp về tôn giáo…</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Đánh giá về cơ sở chính trị- xã hội trong quần chúng:</em></p>
<p style="text-align:justify;">Qua điểm nóng, do sự chống đối của nhân dân với chính quyền nhà nước, có thể có những đánh giá khác nhau về cơ sở chính trị- xã hội trong nhân dân. Sự đánh giá đó phải tuỳ thuộc vào những điều kiện cụ thể. Trong trường hợp nhân dân tự tổ chức chống lại tệ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, sự tha hoá của chính quyền nhà nước, thì đó lại là cơ sở chính trị vững vàng cho một chính quyền nhà nước trong sạch, vững mạnh. Trong trường hợp nhân dân bị kẻ xấu, phản động lôi kéo, kích động thì cần phải đánh giá bản chất của nhân dân nơi xảy ra điểm nóng, tìm hiểu nguyên nhân và mức độ bị lôi cuốn, kích động để tìm ra những giải pháp nhằm chuyển hoá quần chúng theo hướng tích cực…</p>
<p style="text-align:justify;">Đặc biệt cần đánh giá cụ thể lực lượng phản động còn ẩn náu trong nhân dân hay không; số đã bộc lộ ra, số vẫn còn tiếp tục giấu mặt; khả năng hoạt động của các lực lượng ấy.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>b. Dự báo tình hình và áp dụng các giải pháp để điểm nóng, không tái phát :</em></p>
<p style="text-align:justify;">Trên cơ sở đánh giá các vấn đề một cách khách quan và cụ thể có thể dự báo tình hình xem điểm nóng có thể tái phát trở lại hay không? Mức độ tái phát ra sao? Xu hướng tái phát? Tái phát theo chiều hướng giảm dần hay ngày càng nghiêm trọng hơn? Cần phải áp dụng những giải pháp gì để điểm nóng không tái phát?</p>
<p style="text-align:justify;">Để điểm nóng không tái phát cần áp dụng tổng hợp các giải pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng cơ bản nhất vẫn là phát triển kinh tế và tạo dựng cơ sở chính trị trong nhân dân. Cần áp dụng các giải pháp an dân cả về vật chất và tinh thần.</p>
<p style="text-align:justify;"><em></em>1 Tham khảo tài liệu Tập bài giảng xử lý tình huống chính trị – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001.</p>
<p style="text-align:right;"><em>(S.t)</em></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/232/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/232/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=232&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/02/x%e1%bb%ad-ly-di%e1%bb%83m-nong-chinh-tr%e1%bb%8b-%e2%80%93-xa-h%e1%bb%99i-m%e1%ba%a5y-v%e1%ba%a5n-d%e1%bb%81-ly-lu%e1%ba%adn-va-th%e1%bb%b1c-ti%e1%bb%85n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>BẢN CHẤT CỦA TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA</title>
		<link>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/02/b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-tranh-t%e1%bb%a5ng-t%e1%ba%a1i-phien-toa/</link>
		<comments>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/02/b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-tranh-t%e1%bb%a5ng-t%e1%ba%a1i-phien-toa/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Jul 2009 05:27:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lelawfirm</dc:creator>
				<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lelawfirm.wordpress.com/?p=230</guid>
		<description><![CDATA[TRẦN V ĂN ĐỘ PGS-TS, Tòa án Quân sự Trung ương 1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=230&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><span style="text-decoration:underline;">TRẦN V ĂN ĐỘ</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">PGS-TS, Tòa án Quân sự Trung ương</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>1</strong>. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.</p>
<p style="text-align:justify;">Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Thứ nhất</em>, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Thứ hai</em>, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Thứ ba</em>, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;</p>
<p style="text-align:justify;">- <em>Thứ tư</em>, phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Thông qua thủ tục tại phiên tòa, việc điều tra công khai, việc tranh luận và đặc biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình, tòa án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa nâng cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin vào pháp luật để từ đó không chỉ tự nguyện tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật v.v.<span id="more-230"></span></p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy, phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất quá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng. Phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, tòa án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất) tiến hành xác định sự thật khách quan của vụ án và ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;">Mỗi quốc gia khác nhau có các thủ tục tố tụng khác nhau mang yếu tố đặc trưng cũng như truyền thống của mình. Tuy nhiên trong xã hội dân chủ, tiến bộ hiện nay, nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện ở tuyệt đại đa số các nhà nước trên thế giới. Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm bị các bên tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan kháng cáo, hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị trong thời hạn luật định thì phải được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, trong tố tụng nói đến phiên tòa, tức là nói đến phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm. Thế nhưng, là phiên tòa lần đầu xem xét và quyết định về toàn bộ vụ án, phiên tòa sơ thẩm thể hiện đầy đủ nhất các yếu tố đặc trưng của phiên tòa. Ngoài ra, tuỳ theo cách tổ chức của hệ thống tư pháp, ở các nước còn có các phiên tòa khác như phiên tòa giám đốc thẩm, phiên tòa tái thẩm, phiên tòa phá án, nhưng đây là các thủ tục đặc biệt, nên những phiên tòa này cũng mang yếu tố đặc biệt, không thể thực hiện đầy đủ các yếu tố đặc trưng của một phiên tòa.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo chúng tôi, với vai trò cực kỳ quan trọng như vậy, việc nâng cao chất lượng phiên tòa luôn luôn là một nhu cầu, một đòi hỏi cấp thiết khách quan. Việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng phải lấy thủ tục tại phiên tòa là tâm điểm. Việc nghiên cứu xây dựng một hệ thống tố tụng tranh tụng hay hệ thống tố tụng khác có các yếu tố tranh tụng phải được xuất phát trước tiên từ vấn đề tranh tụng tại phiên tòa.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>2</strong>. Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhân loại. Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù có tổ chức hệ thống tư pháp khác nhau, dù là hệ thống luật án lệ (common law), hệ thống luật lục địa (legal law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì ít hay nhiều và bằng các thể hiện khác nhau, trong hệ thống tố tụng đều có yếu tố tranh tụng. Đây là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng.</p>
<p style="text-align:justify;">Vì thế, chúng tôi không thể đồng ý với quan điểm cho rằng tranh tụng là yếu tố đặc trưng của tư pháp tư sản; rằng tranh tụng là biểu hiện của nền dân chủ tư sản hình thức; và vì vậy nó không thể có chỗ đứng trong hoạt động tư pháp xã hội chủ nghĩa; rằng trong tư pháp xã hội chủ nghĩa chỉ có tố tụng xét hỏi và kết hợp với tranh luận để giải quyết vụ án mà thôi v.v.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo Từ điển tiếng Việt, tranh tụng có nghĩa là kiện cáo lẫn nhau1. Còn theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”. Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ cũng có sự tham gia của các bên có quyền và (hoặc) lợi ích trái ngược nhau yêu cầu tòa án phân xử. Để có cơ sở cho tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên tham gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước tòa án, chứng minh và tranh luận để bảo vệ yêu cầu của mình.</p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy, tranh tụng bao giờ cũng gắn liền với hoạt động tài phán của tòa án. Xét xử dân sự là hoạt động phân xử vụ kiện giữa các bên có quyền và lợi ích khác nhau. Tại phiên tòa, tòa án tiến hành xác định sự thật của vụ án bằng cách điều tra công khai, chính thức về vụ việc, nghe các bên tranh luận về giải quyết vụ án từ góc độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.</p>
<p style="text-align:justify;">Tùy theo tính chất vụ án mà chức năng tố tụng, địa vị pháp lý của các bên cũng khác nhau. Tranh tụng trong tố tụng hình sự diễn ra giữa bên buộc tội và bên bào chữa, chủ yếu là giữa công tố với người bào chữa và bị cáo; trong tố tụng dân sự diễn ra giữa nguyên đơn với bị đơn dân sự. Để những người đó thực hiện việc tranh tụng, pháp luật tố tụng quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định. Vì vậy, trong khoa học pháp lý, tranh tụng được phân thành tranh tụng dân sự, tranh tụng kinh tế, tranh tụng hành chính2.</p>
<p style="text-align:justify;">Trong tất cả các loại tranh tụng, tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử. Tòa án thực hiện chức năng như một trọng tài có địa vị độc lập với các bên để phân xử một cách khách quan, theo pháp luật. Trong tố tụng hình sự, chức năng xét xử của tòa án độc lập với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa; trong tố tụng dân sự, kinh tế, tòa án là người đứng ra phân xử giữa bên khởi kiện và bên bị kiện để ra phán quyết về vụ án.</p>
<p style="text-align:justify;">Cần phải khẳng định rằng với tính chất là sự tranh luận giữa các bên có quyền và lợi ích khác nhau, tranh tụng luôn luôn có mặt trong các hệ thống tố tụng khác nhau. Bởi vì, mục đích của các hệ thống tố tụng dân chủ, tiến bộ trong thế giới hiện đại là xác định được sự thật và phán quyết về vụ án trên cơ sở quy định của pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, mỗi hệ thống tố tụng lại có phương cách xác định sự thật khác nhau, cơ sở pháp lý khác nhau , nên phạm vi, tính chất và mức độ tranh tụng cũng có những điểm khác nhau. Căn cứ vào phương cách mà tố tụng được thực hiện, cơ sở pháp lý cho việc thực hiện phương cách đó, người ta phân tố tụng tư pháp, đặc biệt là tố tụng hình sự thành các hệ thống khác nhau: hệ thống tranh tụng, hệ thống xét hỏi (hay thẩm vấn) và hệ thống pha trộn. Và trong mỗi hệ thống đó, mức độ tranh tụng cũng khác nhau3.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Hệ thống tranh tụng:</em></p>
<p style="text-align:justify;">Hệ thống tranh tụng thường được sử dụng trong các nước có hệ thống luật án lệ (common law). Mục đích chính của tố tụng theo hệ thống này là phán quyết trên cơ sở thỏa mãn với sự thật pháp lý mà các bên chứng minh tại phiên tòa. Theo hệ thống này, hoạt động tư pháp thực chất được bó gọn trong hoạt động xét xử tại phiên tòa với các quy định nghiêm ngặt (nhiều khi đến mức máy móc) về thủ tục tố tụng. Tính tranh tụng trong xét xử vụ án được thực hiện một cách triệt để. Sự thật chỉ được xác lập tại phiên tòa. Các chức năng tố tụng (công tố– bào chữa– xét xử, nguyên kiện– bị kiện– xét xử) được quy định và thực hiện minh bạch và hoàn toàn chế ước, kiểm tra lẫn nhau. Tòa án đóng vai trò là người trọng tài và qua phiên tòa xác định xem “sự thật” của ai (bên nguyên và bên bị) thuyết phục hơn để qua đó phán xét. Quyết định của tòa án dường như được thực hiện không phải trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng minh tại phiên tòa có tính thuyết phục cao hơn.</p>
<p style="text-align:justify;">Vì vậy, tòa án không xét hỏi, không tranh luận và cũng không gợi ý tranh luận, mà chỉ là người trọng tài điều khiển phiên tòa, đóng vai trò thụ động trong quá trình chứng minh, nhưng lại toàn quyền phán quyết về vụ án. Toàn bộ quá trình tố tụng được thực hiện bằng miệng. Vì vậy, tại phiên tòa phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng, các vật chứng phải được các bên đưa ra xem xét tại phiên tòa v.v.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Hệ thống xét hỏi: </em></p>
<p style="text-align:justify;">Hệ thống xét hỏi thường được sử dụng trong các nước theo hệ thống luật lục địa (legal law). Mục đích chính của tố tụng theo hệ thống này là cố gắng xác định sự thật khách quan của vụ án để từ đó ra phán quyết. Vì vậy, quá trình tố tụng được thực hiện bằng văn bản và bằng lời, bao gồm cả giai đoạn điều tra và xét xử tại phiên tòa. Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ sở sử dụng kết quả đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa. Vì vậy thủ tục tố tụng tại phiên tòa đơn giản hơn, ít khắt khe hơn về mặt hình thức: việc xét xử không nhất thiết phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, chứng cứ thu thập chỉ cần thẩm tra lại tại phiên tòa, gánh nặng xét hỏi do tòa án đảm nhận. Phán quyết của tòa án được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm của tòa án về sự thật khách quan của vụ án, chứ không phải là kết qủa của việc ai thuyết phục tòa án tốt hơn tại phiên tòa v.v.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>- Hệ thống pha trộn:</em></p>
<p style="text-align:justify;">Hệ thống pha trộn được thực hiện trên cơ sở kết hợp hai hệ thống tranh tụng và xét hỏi. Nhìn từ góc độ mục đích tố tụng cũng như phương cách để đạt được mục đích đó, thì mỗi hệ thống tranh tụng (tranh tụng hay xét hỏi) đều có mặt tích cực và hạn chế nhất định. Hệ thống tố tụng pha trộn là sự kết hợp giữa hai hệ thống tranh tụng trên. Tùy theo việc quốc gia thuộc vào hệ thống tư pháp nào (án lệ hay lục địa) mà “dấu ấn” của hệ thống tố tụng trong hệ thống tố tụng pha trộn nổi rõ hơn.</p>
<p style="text-align:justify;">Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật lục địa. Tố tụng nước ta được thực hiện theo hệ thống pha trộn thiên về xét hỏi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng nước ta rõ nét hơn. Việc nghiên cứu bản chất của tranh tụng tại phiên tòa ở nước ta phải được xem xét từ góc độ tranh tụng trong tố tụng xét hỏi.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>3.</strong> Hiện nay, trong khoa học pháp lý còn nhiều ý kiến khác nhau về nội dung tranh tụng tại phiên tòa. Có ý kiến cho rằng tại phiên tòa các bên chỉ thực hiện việc tranh luận trong giai đoạn tranh luận, còn xét hỏi là nhiệm vụ của Hội đồng xét xử và Viện kiểm sát. Những người khác lại cho rằng tranh tụng được thực hiện trong hầu hết các giai đoạn của phiên tòa, đặc biệt là trong phần xét hỏi và phần tranh luận.</p>
<p style="text-align:justify;">Chúng tôi cho rằng, nếu chỉ thu hẹp việc tranh tụng trong phần tranh luận thì không đạt được các mục đích tranh tụng đặt ra. Để thực sự tham gia vào quá trình chứng minh, các bên tham gia tranh tụng phải được phép đưa ra chứng cứ, thực hiện việc xét hỏi, xem xét vật chứng, để đảm bảo tính đầy đủ, toàn diện, chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá từ góc độ, cách nhìn nhận khác nhau cả của bên nguyên (nguyên đơn, buộc tội) cũng như bên bị (bị đơn, bị cáo). Hơn nữa, theo tố tụng hình sự của nhiều nước, nhất là các nước theo truyền thống án lệ, phiên tòa không được phân chia rõ rệt thành phần xét hỏi, phần tranh luận thì quan điểm cho rằng tranh tụng chỉ xảy ra trong phần tranh luận là không chính xác.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo chúng tôi, nội dung tranh tụng tại phiên tòa bao gồm:</p>
<p style="text-align:justify;">- Đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới. Hồ sơ, chứng cứ được xác lập trong giai đoạn điều tra là rất quan trọng cho việc xét xử tại phiên tòa. Tuy nhiên, các chứng cứ có trong hồ sơ là do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và không loại trừ việc thiếu khách quan. Đặc biệt đối với vụ án hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; cho nên đa số các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú trọng thu thập chứng cứ gỡ tội; trong khi đó bên bào chữa (người bào chữa, bị can, bị cáo) không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên tòa. Vì vậy, cho nên pháp luật tố tụng quy định các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, quyền đưa ra các chứng cứ mới tại phiên tòa. Nhiệm vụ của tòa án là đảm bảo để các bên thực hiện quyền tố tụng này; tránh trường hợp sợ phiền phức, sợ phiên tòa đi chệch quỹ đạo chuẩn bị nên không chú trọng thủ tục này tại phần mở đầu phiên tòa.</p>
<p style="text-align:justify;">- Thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa. Xét hỏi thực chất là cuộc điều tra chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, các bên tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi người khác, xem xét vật chứng, tài liệu. Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi sự thật khách quan, đối tượng chứng minh trong vụ án đã được xác định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết đã được làm rõ. Vì thế cho nên, thủ tục tố tụng quy định quyền thu thập chứng cứ chỉ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, quy định gánh nặng xét hỏi cho tòa án, quy định chỉ cho phép một số ít các bên tham gia xét hỏi (đại diện Viện kiểm sát, luật sư) cần được xem xét lại từ góc độ tranh tụng;</p>
<p style="text-align:justify;">- Phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ. Qua việc điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn nhận, đánh giá của mình về kết qủa chứng minh. Để thực hiện chức năng tố tụng, nhiệm vụ tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sự thật khách quan của vụ án để giúp cho tòa án cân nhắc khi ra phán quyết. Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết;</p>
<p style="text-align:justify;">- Phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng. Thực tiễn cho thấy rằng, do nhiều lý do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của pháp luật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ nhận thức pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất khác nhau trong hoạt động tố tụng. Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị áp dụng luật để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ: trong phiên tòa hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ cáo trạng, bảo vệ việc buộc tội; người bào chữa đề nghị áp dụng pháp luật hình sự để gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo v.v;</p>
<p style="text-align:justify;">- Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi ích liên quan. Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong tranh tụng là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó. Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau: đại diện Viện kiểm sát bảo vệ cáo trạng, người bào chữa, bị cáo bảo vệ quan điểm không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường, bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường4 v.v</p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa là hình thức tố tụng mà trong đó Tòa án thay mặt nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên Tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>4</strong>. Tranh tụng là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng nói chung và xét xử nói riêng. Để đảm bảo cho nguyên tắc tranh tụng được thực hiện đầy đủ trong tố tụng nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng, cần thiết phải có một hệ thống các bảo đảm về pháp lý, về tổ chức cũng như về cơ sở vật chất.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>* Bảo đảm pháp lý</em>:</p>
<p style="text-align:justify;">Theo chúng tôi, bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa bao gồm:</p>
<p style="text-align:justify;">- Các quy định đầy đủ, hợp lý và khả thi về địa vị tố tụng của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa để họ có đầy đủ điều kiện, khả năng thực hiện các nội dung tranh tụng theo chức năng, nhiệm vụ hoặc lợi ích của mình: được chủ động thu thập vật chứng, được xét hỏi những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng trong giai đoạn điều tra, được yêu cầu cung cấp tài liệu;</p>
<p style="text-align:justify;">- Quy định thủ tục tố tụng bình đẳng, nhất là tại phiên tòa; đảm bảo để các bên tham gia tố tụng được xét hỏi, tranh luận một cách khách quan, công bằng và bình đẳng; mở rộng phạm vi các vụ án có sự tham gia bắt buộc của luật sư;</p>
<p style="text-align:justify;">- Quy định quyền khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của các bên và hiệu lực như nhau của các khiếu nại đó.Ví dụ: Viện kiểm sát và bị cáo đều phải có quyền kháng cáo, kháng nghị như nhau đối với bản án, quyết định của tòa án.</p>
<p style="text-align:justify;"><em>* Bảo đảm về mặt tổ chức</em>:</p>
<p style="text-align:justify;">- Hình thành các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức bổ trợ với chức năng hợp lý phù hợp với cơ chế tranh tụng. Các vấn đề như quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát tư pháp hay không, có cho phép thành lập các tổ chức thám tử tư để giúp người tham gia tố tụng thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra, là những vấn đề cần được nghiên cứu thỏa đáng;</p>
<p style="text-align:justify;">- Tăng cường các tổ chức luật sư, mở rộng phạm vi bào chữa để đảm bảo các phiên tòa có sự tham gia của người bào chữa ngày càng nhiều; nâng cao văn hoá pháp lý trong tố tụng nói chung và tại phiên tòa nói riêng;</p>
<p style="text-align:justify;">- Nâng cao trình độ, nhận thức của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, đảm bảo cho họ có đủ năng lực về chuyên môn, về phong cách, về khả năng diễn đạt để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa. Những trường hợp người tham gia tranh tụng không có khả năng đó thì nhất thiết phải được sự trợ giúp của luật sư;</p>
<p style="text-align:justify;">- Bảo đảm cơ sở vật chất cho quá trình tranh tụng. Vị trí của các bên tại phiên tòa thế nào để đảm bảo không khí tố tụng bình đẳng, khách quan; tạo điều kiện cho các bên dễ dàng tiếp xúc trong quá trình tố tụng; hệ thống âm thanh, hình ảnh thuận tiện cho việc theo dõi tiến trình tố tụng là những điều kiện rất cần thiết cho tranh tụng cần được nghiên cứu v.v.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>5. Tóm lại</strong></p>
<p style="text-align:justify;">1. Tranh tụng là hình thức tố tụng trong giải quyết các vụ án. Phạm vi và nội dung tranh tụng có khác nhau trong các hệ thống pháp luật và các loại án. Thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa và tòa án ra phán quyết trên cơ sở kết qủa tranh tụng tại phiên tòa là đảm bảo quan trọng cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan.</p>
<p style="text-align:justify;">Tranh tụng tồn tại trong tất cả thủ tục tố tụng hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính. Tuy nhiên, mỗi loại án có những đặc trưng khác nhau về yếu tố tranh tụng. Việc tranh tụng được thực hiện trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, nhưng tại phiên tòa là quan trọng nhất.</p>
<p style="text-align:justify;">Nội dung tranh tụng tại phiên tòa được thực hiện cả trong giai đoạn bắt đầu, trong xét hỏi và trong tranh luận. Tùy theo địa vị tố tụng mà người tham gia tố tụng thực hiện nội dung tranh luận khác nhau.</p>
<p style="text-align:justify;">Để thực hiện việc tranh tụng, cần thiết phải có một hệ thống các bảo đảm về mặt pháp lý, về mặt tổ chức phù hợp, khả thi trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay.</p>
<p style="text-align:justify;">2. Bộ luật tố tụng hình sự cần thể hiện được các tư tưởng tranh tụng trong tố tụng xét hỏi như sau:</p>
<p style="text-align:justify;">- Quy định tranh tụng, bảo đảm sự bình đẳng của các bên tham gia tố tụng trước tòa án là các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự.</p>
<p style="text-align:justify;">- Các nguyên tắc đó phải được thể hiện đầy đủ trong các quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng hình sự: bình đẳng trong quá trình chứng minh (bao gồm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ), bình đẳng trong bày tỏ quan điểm, đưa ra các yêu cầu và tranh luận trước tòa án v.v</p>
<p style="text-align:justify;">- Quy định rõ và và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các bên tham gia tố tụng để họ có đủ cơ sở pháp lý cho việc tranh tụng được thực hiện trên thực tế;</p>
<p style="text-align:justify;">- Mở rộng phạm vi tham gia tố tụng của người bào chữa cho bị can, bị cáo, người bảo vệ quyền lợi của đương sự để họ có thể thay mặt bị can, bị cáo, đương sự thật sự thực hiện việc tranh tụng trong tố tụng hình sự. Việc mở rộng phạm vi tham gia tố tụng của người bào chữa không đơn thuần là vấn đề người bào chữa tham gia tố tụng vào thời điểm nào như bấy lâu nay vẫn được tranh luận trong khoa học mà quan trọng là người bào chữa có địa vị pháp lý như thế nào để có thể bình đẳng trong tranh tụng với bên buộc tội.</p>
<p style="text-align:justify;">&lt;!&#8211;[if !vml]&#8211;&gt;&lt;!&#8211;[endif]&#8211;&gt;</p>
<p style="text-align:justify;"> </p>
<p style="text-align:justify;">1 Xem: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1991, trang 1238.</p>
<p style="text-align:justify;">2 Nguyễn Đức Mai, Vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự, Luận án Thạc sĩ luật học, Hà Nội, 1996, trang 14.</p>
<p style="text-align:justify;">3 Xem: Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp lý Bộ tư pháp, số chuyên đề, 1999, trang 177-133; Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Thông tin khoa học xét xử, số 1-2003, trang 3-6.</p>
<p style="text-align:justify;">4 Xem: Thông báo 290 ngày 05 tháng 11 năm 2002 của Tòa án nhân dân tối cao kết luận hội thảo về “Tranh luận tại phiên tòa hình sự”.</p>
<p style="text-align:right;">(nguồn: <a href="http://www.hcmulaw.edu.vn">http://www.hcmulaw.edu.vn</a>)</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lelawfirm.wordpress.com/230/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lelawfirm.wordpress.com/230/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lelawfirm.wordpress.com&amp;blog=7997833&amp;post=230&amp;subd=lelawfirm&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lelawfirm.wordpress.com/2009/07/02/b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-tranh-t%e1%bb%a5ng-t%e1%ba%a1i-phien-toa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/125b84e7ac741e7a5c8974fcc5e2742a?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">lelawfirm</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
