Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh Trọng tài năm 2003 thì Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh này quy định.

Có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ngoài con đường toà án như Thương lượng, trung gian, hoà giải nhưng so với các phương thức giải quyết tranh chấp trên thì việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trong tài có một số ưu điểm như: 

 Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế.

- Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán quyết xong, Uỷ ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Điều này khác với việc xét xử tại tòa án.

Hiệu lực của quyết định của trọng tài

Quyết định trọng tài được tuyên ở một nước, về nguyên tắc, chỉ có hiệu lực đối với các bên đương sự ở nước đó. Có nghĩa là quyết định trọng tài chỉ có hiệu lựa pháp lý trong phạm vi lãnh thổ của nước có trọng tài. Đối với tranh chấp có yếu tố quốc tế, việc ra đời của Công ước New – York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc thi hành hiệu lực của quyết định trọng tài ở nước ngoài.

Theo Công ước New-York, các quyết định của trọng tài của bất kỳ nước thành viên nào của Công ước, nếu hội đủ các điều kiện, đều được tòa án của các nước thành viên khác thừa nhận và thi hành thông qua các thủ tục pháp lý linh hoạt, mềm dẻo và thiện chí. Đến nay, đã có trên 100 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ở khắp các châu lục trên thế giới thừa nhận Công ước này.

Thứ hai, tính bí mật

Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác.

Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước tòa án (hoặc công chúng) – điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình.

Thứ ba, tính liên tục

Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài (Uỷ ban trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó. Các trọng tài viên theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc. Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận. Điều này thường không xảy ra ở tòa án.

Thứ tư, tính linh hoạt

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính linh hoạt, mềm dẻo, năng động và dễ thích ứng hơn so với tòa án. Tòa án, khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm khắc (cứng nhắc) các quy định có tính quy trình, thủ tục, trình tự … được quy định trước đó. Điều này không phải là hoàn toàn phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ năm, tiết kiệm thời gian

Tính liên tục, tốc độ của các hoạt động kinh tế và kinh doanh, đặc biệt hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc gây ra khả năng ách tắc hồ sơ.

Giải quyết tranh chấp bằng tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn tại tòa án có thể kéo dài hàng năm trời.

Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác

Việc xét xử tranh chấp bằng trọng tài có tính bí mật sẽ tránh cho các bên nguy cơ làm tổn thương đến mối quan hệ hợp tác. Trong khi đó, xét xử công khai tại tòa án thường dễ làm cho các bên rơi vào tình thế đối địch nhau với kết cục là một bên được thừa nhận như là người chiến thắng, còn bên kia thấy mình thật sự như một kẻ thua cuộc.

Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau. Và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai.

Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia.

Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên đương sự, điều mà không tồn tại ở tòa án.

Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, XNK hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ…

10.1.1. Tố tụng trọng tài và một số vấn đề cần lưu ý khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam.

a. Lựa chọn hình thức trọng tài

Các bên có quyền lựa chọn Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập để giải quyết tranh chấp theo quy định về tố tụng trọng tài được quy định trong Pháp lệnh Trọng tài Việt Nam năm 2003.

b. Đơn kiện ra trọng tài

Để giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi Trung tâm Trọng tài. Đơn kiện ít nhất phải có 6 nội dung chủ yếu sau đây:

- Ngày, tháng, năm viết đơn;

- Tên và địa chỉ của các bên;

- Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

- Các yêu cầu của nguyên đơn;

- Trị giá tài sản mà nguyên đơn yêu cầu;

- Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài mà nguyên đơn chọn.

Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu, chứng cứ. Bản sao phải có chứng thực hợp lệ.

Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm Trọng tài nhận được đơn kiện của Nguyên đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm trọng tài phải giữ cho Bị đơn bản sao đơn kiện của Nguyên đơn và những tài liệu theo quy định nêu trên.

c. Phí trọng tài

Nguyên đơn phải nộp tạm ứng phí trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thì Ban điều hành Trung tâm trọng tài ấn định phí trọng tài theo điều lệ của Trung tâm.

Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

d. Thời hiệu tố tụng

Có hai loại thời hiệu khởi kiện là thời hiệu khởi kiện do pháp luật quy định cho từng loại tranh chấp và thời hiệu khởi kiện chung kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại.

Cần chú ý đến dán đoạn thời hiệu khởi kiện (tạm dừng thời hiệu khởi kiện) và đứt đoạn thời hiệu khởi kiện (thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện).

e. Vấn đề luật áp dụng

Luật áp dụng liên quan đến thủ tục tố tụng trọng tài.

Luật nội dung được áp dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý về quyền và nghĩa vụ các bên đang tranh chấp.

f. Vấn đề thi hành quyết định trọng tài

Sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu hủy quyết định trọng tài thì bên được thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài.

Do quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm nên nó ràng buộc các bên và bên thua kiện phải có nghĩa vụ thi hành phán quyết.

Đối với các phán quyết trọng tài có yếu tố nước ngoài, nếu bên thua kiện không tự nguyện thi hành, bên thắng kiện phải thông qua tòa án của nước bên thua kiện để đảm bảo cho phán quyết của trọng tài được thi hành. Bên thắng kiện phải làm đơn yêu cầu thi hành phán quyết của trọng tài kèm theo phán quyết đó gửi tới tòa án của nước bên thua kiện để nhờ tòa án can thiệp cho phán quyết được thi hành. Tòa án nước bên thua kiện sẽ xem xét đơn yêu cầu đó và có thể ra mệnh lệnh thi hành phán quyết của trọng tài gửi cho bên thua kiện để bên này thi hành. Nếu bên thua kiện vẫn không thi hành phán quyết thì sẽ áp dụng thủ tục cưỡng chế thi hành. Khi xem xét để ra mệnh lệnh thi hành phán quyết trọng tài, tòa án dựa vào điều ước quốc tế có liên quan giữa hai nước, hoặc dựa vào luật của nước mình khi chưa có điều ước quốc tế có liên quan.

10.1.2. Một số điểm cần lưu ý khi giải quyết tranh chấp trong ngoại thương bằng Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

a. Tham gia tố tụng trọng tài

Các bên có thể tham gia trực tiếp hoặc ủy quyền cho đại diện tham gia tố tụng trọng tài. Trong trường hợp có sự ủy quyền thì việc quỷ quyền phải được lập bằng văn bản, nêu rõ nội dung, phạm vi, thời hạn ủy quyền và thông báo cho VIAC biết.

Trong vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, bị đơn có thể chọn một trọng tài viên có tên trong hoặc ngoài Danh sách Trọng tài viên hoặc yêu cầu Chủ tịch VIAC chỉ định một trọng tài viên cho mình. Nếu chọn Trọng tài viên ngoài Danh sách Trọng tài viên, bị đơn phải thông báo cho VIAC họ tên và địa chỉ liên lạc của Trọng tài viên mà bị đơn chọn. Trường hợp bị đơn yêu cầu Chủ tịch VIAC chỉ định Trọng tài viên, Chủ tịch VIAC sẽ chỉ định một Trọng tài viên có tên trong Danh sách Trọng tài viên.

b. Căn cứ pháp lý để giải quyết nội dung vụ tranh chấp

Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài giải quyết nội dung vụ tranh chấp căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng, vào luật áp dụng do các bên lựa chọn, vào các điều ước quốc tế có liên quan và có tính đến các tập quán thương mại quốc tế. Trong trường hợp các bên không chọn hoặc không thống nhất được việc chọn luật áp dụng thì Hội đồng Trọng tài quyết định chọn luật áp dụng mà Hội đồng Trọng tài cho là phù hợp (điều 19, khoản 2 Quy tắc tố tụng của VIAC).

c. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, các bên có quyền gửi đơn đến tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật (điều 26 Quy tắc tố tụng của VIAC).

Tòa án có thẩm quyền trong trường hợp này là Tòa án cấp tỉnh, nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm:

- Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy;

- Kê biên tài sản tranh chấp;

- Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;

- Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;

- Kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi;

- Phong tỏa tài sản tại ngân hàng.

d. Hiệu lực của Quyết định Trọng tài

Quyết định Trọng tài có giá trị chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các bên phải thi hành Quyết định Trọng tài theo quy định của pháp luật.

Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết hạn thời hạn thi hành Quyết định Trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu hủy Quyết định thì bên được thi hành Quyết định Trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành Quyết định Trọng tài.

Trình tự, thủ tục và thời hạn thi hành Quyết định Trọng tài được áp dụng theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự (điều 57 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003).

 

 

 

 

 

VP CLBPCDN
About these ads