I.1. Lựa chọn khách hàng Khách hàng là nguồn sống, là đối tác của luật sư. Nói như vậy, có nghĩa rằng, luật sư phải có khách hàng, thu hút khách hàng, phải xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng, nhưng làm được điều đó, luật sư phải xây dựng uy tín và niềm tin của mình đối với khách hàng. Trong hoạt động tư vấn pháp luật, không phải luật sư tìm đến với khách hàng mà khách hàng đến với luật sư. Khách hàng có quyền chọn luật sư hoặc công ty tư vấn pháp luật nào mà họ muốn, họ tin cậy. Khách hàng cũng có thể chọn một luật sư vì những mối quan hệ cá nhân như quen biết, qua giới thiệu,… Có thể nói, khách hàng đến với luật sư qua các kênh, như uy tín, kiến thức và chuyên môn, sách báo xuất bản, các bài giảng tại các Hội thảo khoa học, do sự giới thiệu của các khách hàng khác, khách hàng quen, quan hệ cá nhân tốt, qua tiếp xúc cá nhân, tổ chức, các cuộc thi hay sự phát triển của thị trường. Tuy vậy, luật sư cũng có quyền lựa chọn khách hàng và đây là điểm đầu tiên để quyết định sự thành bại của hoạt động tư vấn. Vậy khách hàng của bạn là ai? Trong thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật của Việt Nam thường có hai mối khách hàng: khách hàng Việt Nam và khách hàng nước ngoài.
I.1.1. Khách hàng Việt Nam Người Việt Nam (khách hàng Việt Nam) có tâm lý thắng thua trong kiện cáo. Khi bắt đầu việc kiện nhau họ thường tìm mọi cách để giành phần thắng về mình kể cả việc tìm luật sư giỏi để tư vấn. Đồng thời, người Việt Nam cũng có tâm lý chuộng hình thức, như các công ty thường mời những luật sư giỏi tư vấn cho mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng của công ty. Khi tiếp xúc với luật sư tư vấn, khách hàng Việt Nam thường biểu hiện dưới hai dạng sau đây: – Thứ nhất, mang nặng suy nghĩ chủ quan, luôn cho rằng mình đúng. Vì vậy khi tiếp xúc với luật sư, khách hàng tìm mọi cách để áp đảo, thuyết phục luật sư hiểu như mình, tức là khách hàng đang đúng. Có trường hợp khách hàng đúng, nhưng cũng không ít trường hợp khách hàng chủ quan nguỵ biện, ngộ nhận. Khi đó, luật sư phải giải thích, yêu cầu khách hàng trình bày một cách mạch lạc, cung cấp các thông tin cần thiết đối với việc cần tư vấn, trên cơ sở đó luật sư sẽ tiến hành các bước như tư vấn ở đoạn sau. – Thứ hai, biết sai, thậm chí có đầy đủ cơ sở chứng minh là sai nhưng vẫn cố tình bảo vệ cái sai của mình. Khách hàng trong trường hợp này muốn luật sư biến cái sai thành cái đúng, khai thác lợi ích từ những điểm, vấn đề sai đó để họ được lợi hoặc khách hàng nhờ luật sư tư vấn để khắc phục, nhằm giảm bớt tổn thất, giảm bồi thường thiệt hại do lỗi của họ gây ra. Ví dụ: Đối với các việc ly hôn có gắn liền với việc chia tài sản và con cái. Trước khi đưa vụ kiện ra Toà, khách hàng thường yêu cầu luật sư giúp họ bằng cách nào vừa ly hôn, được chia tài sản (không phải của mình) vừa được nuôi con. Trong trường hợp này, xét về mặt đạo đức nghề nghiệp, luật sư không được giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật. Luật sư tư vấn giúp họ giải toả được về mặt tâm lý, để họ thấy rằng pháp luật chỉ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, thực hiện những điều trái với pháp luật là trái với tư cách hành nghề của luật sư. Tuy vậy trong từng trường hợp cụ thể, luật sư tư vấn có thể giúp khách hàng của mình tận dụng các quy định của pháp luật để giảm bớt trách nhiệm cho họ.
I.1.2. Đối với khách hàng nước ngoài Khách hàng có thể là cá nhân nước ngoài hoặc các doanh nghiệp, các công ty, tổ chức nước ngoài thành lập và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Khác hàng nước ngoài thường là những người hiểu biết pháp luật, có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản lý và đầu óc tổ chức. Vì vậy, các yêu cầu của họ thường rõ ràng, rành mạch. Khác với khách hàng Việt Nam, họ ít khi yêu cầu luật sư Việt Nam tư vấn cho họ những điều trái với pháp luật, rất coi trọng hình thức và uy tín nghề nghiệp. Vì vậy, khi làm việc với họ, luật sư phải thể hiện bản lĩnh là người am hiểu pháp luật Việt Nam, có uy tín và thâm niêm trong nghề, là người bảo vệ quyền lợi cho khách hàng phù hợp với pháp luật Việt Nam. Khách hàng nước ngoài sẽ không hài lòng, nếu luật sư làm việc thông qua kinh nghiệm cá nhân hoặc lợi dụng mối quen biết để đi cửa sau. Để thu hút khách hàng nước ngoài, luật sư có thể tiến hành một số hoạt động sau: – Kỹ thuật tiếp thị: Là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong các quốc gia kinh tế thị trường. Các cơ quan tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thị trường thường bận bịu với công việc không có điều kiện tìm hiểu sâu sắc các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình, vì vậy để chiếm lĩnh thị trường luật sư cần phải tiếp thị và có thể thông qua một số hình thức như: Hội thảo, giới thiệu công ty tư vấn của mình bằng các cuốn sách nhỏ hoặc các tờ rơi hay làm tư vấn tại gia, tại cơ quan để củng cố quan hệ với khách hàng, tiếp đãi khách hàng -đây là cách thức quan trọng để tạo quan hệ, họp báo, quảng cáo… – Uy tín: Là phương tiện tiếp thị quý giá nhất, là yếu tố quan trọng nhất đối với khách hàng khi họ lựa chọn luật sư tư vấn. Tạo được uy tín tốt là luật sư đã có được một gia tài. Một hãng luật, công ty luật hoặc một luật sư có uy tín chắc chắn sẽ thu hút được những khách hàng tốt nhất và có cơ hội tham gia vào các giao dịch lớn nhất. Qua đó luật sư sẽ được tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm đồng thời thu hút được nhiều khách hàng. – Trung thực: Đừng bao giờ thiết lập kiểu quan hệ mua bán với khách hàng, Phải xây dựng quan hệ với khách hàng trên cơ sở chân thực, hợp tác, bền vững và hai bên đều có lợi. Phải để khách hàng thầy rằng, bạn (luật sư) hay công ty bạn là người làm ăn đứng đắn, đàng hoàng, không mang tích chất chộp giật, không lấy chuyện tiền bạc làm mục tiêu. Điều đó củng cố uy tín của bạn, tạo niềm tin cho khách hàng và duy trì được mối khách hàng thường xuyên cho bạn. – Tính kiên nhẫn: Đừng bao giờ tỏ ra sốt ruột, muốn tạo ngay một mối khách hàng rộng lớn. Khách hàng thường xuyên, rộng lớn, gắn bó với luật sư phải được hình thành qua thời gian. Khách hàng khi lựa chọn cũng phải thử thách. Hiệu quả của công việc, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, uy tín kết hợp với tính kiên nhẫn tạo nên sự thành công của luật sư.
I.2. Thù lao và thanh toán chi phí Khách hàng Việt Nam hay khách hàng nước ngoài ngoài yếu tố chuyên môn vấn đề họ quan tâm là thù lao của dịch vụ. Cùng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ như nhau, khách hàng sẽ chọn luật sư hay công ty (hãng) luật có mức phí thấp. Tuy nhiên, giá thấp chưa phải là vấn đề quyết định mà chỉ là một yếu tố để khách hàng cân nhắc. Thông thường khi nhờ đến luật sư họ sẽ chủ động hỏi về các chi phí và khách hàng nước ngoài thù lao thường được coi là vấn đề nghiêm túc, thẳng thắn và sòng phẳng. Vì vậy, luật sư nên chủ động tính toán vấn đề chi phí với khách hàng nước ngoài, thông báo các chi phí cần thiết để họ chấp nhận hay không chấp nhận. Còn với khách hàng Việt Nam chưa quen với các vấn đề chi phí, nhiều khi không đặt vấn đề thù lao dịch vụ với luật sư mà thường chủ động dùng quà biếu để thay cho tiền dịch vụ. Đối với những dịch vụ có giá trị lớn luật sư tư vấn không được chấp nhận cách trả chi phí như trên. Hiện tại chưa có một văn bản nào chính thức quy định về chi phí mà khách hàng cần phải trả cho luật sư tư vấn. Các đoàn luật sư hay công ty luật có quy định, cách tính khác nhau về chi phí luật sư. Một số luật sư hành nghề độc lập cũng tự định giá cho khách hàng. Theo Điều 55 Luật Luật sư, mức thù lao và phương thức tính thù lao dựa trên các căn cứ: Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; kinh nghiệm và uy tín của luật sư; giờ làm việc; vụ, việc với mức thù lao trọn gói; vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án; hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định Ngoài các khoản thù lao, khách hàng có thể thoả thuận với luật sư về việc thanh toán tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện yêu cầu của mình. Việc thanh toán các khoản chi phí thực hiện theo các quy định của pháp luật về kế toán (Điều 56, 57, 58). Đối với những luật sư tư vấn làm việc với các khách hàng nước ngoài thông thường áp dụng cách tính thù lao như sau: – Mức thù lao theo giờ. Thông thường khi khách hàng tiếp xúc với bạn, sau khi đã nắm bắt được nội dung công việc luật sư tư vấn chủ động thông báo cho khách hàng số giờ cần phải thực hiện và số tiền phải trả cho mỗi giờ đó. – Mức thù lao hỗn hợp. Được tính theo giờ chung cho mọi luật sư tham gia cuộc giao dịch từ các luật sư lâu năm đến các luật sư mới vào nghề. Mức thù lao này căn cứ vào mức trả quy định chung cho mỗi luật sư, thời gian bỏ ra của từng luật sư cộng với một khoản tiền xê dịch lên xuống. Nhìn chung khách hàng thích trả tiền thù lao cho luật sư theo mức thù lao hỗn hợp vì họ biết rằng nếu có phát sinh vấn đề phức tạp trong giao dịch hoặc nếu công việc cần thêm thời gian của các luật sư lâu năm, thì họ vẫn phải chi trả cùng một mức thù lao hỗn hợp. – Lệ phí trần. Khách hàng thường tìm cách giảm tối thiểu các chi phí pháp luật trong tổng chi phí của một giao dịch để tăng khả năng cạnh tranh của mình và giảm tới mức thấp nhất thiệt hại nếu vụ việc không thành công. – Lệ phí cố định. Việc áp dụng giá cố định đối với những công việc nhất định ngày càng trở lên thông dụng. Một số khách hàng đã quen với mức lệ phí cố định theo quy mô của cuộc giao dịch. Lệ phí cố định giống như lệ phí trần, nhưng khác ở chỗ, lệ phí cố định khuyến khích luật sư tiến hành giao dịch và quản lý nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm tăng tối đa lợi nhuận. Khi lựa phương thức lệ phí cố định, phải cân nhắc nên thu lệ phí về việc gì, liệu lệ phí tính theo mức quy định chung cho các luật sư là thấp hay cao hơn mức tỉ lệ cố định nói trên. Phương thức tính lệ phí này thường gồm có một phần lệ phí cho việc hoạch định giao dịch ban đầu và thường áp dụng đối với các khách hàng lớn, quen biết hoặc các khách hàng thuộc dạng ưu tiên đặc biệt. Đối với cách tính này nên thoả thuận về khoản lệ phí cố định với các khoản lệ phí thoả thuận cho từng phần việc của giao Read the rest of this entry »
+ Ông Bùi Hoàng Danh: Quốc hội đã bỏ án tử hình đối với tám loại tội. Như vậy, kể từ đầu tháng 7-2009 (sau khi Chủ tịch nước công bố luật), mức án cao nhất của tám loại tội này chỉ đến chung thân mà thôi, các cơ quan tố tụng sẽ không áp dụng hình phạt tử hình với họ nữa. Trường hợp tòa đã tuyên án tử hình với tám loại tội này mà chưa thi hành, chánh án TAND tối cao sẽ chuyển hình phạt tử hình xuống chung thân cho họ. Nói cách khác, bị án nào thuộc diện nêu trên mà chưa bị thi hành án thì sẽ thoát chết. Đây là nguyên tắc áp dụng có lợi cho người phạm tội.


