I.1. Lựa chọn khách hàng Khách hàng là nguồn sống, là đối tác của luật sư. Nói như vậy, có nghĩa rằng, luật sư phải có khách hàng, thu hút khách hàng, phải xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng, nhưng làm được điều đó, luật sư phải xây dựng uy tín và niềm tin của mình đối với khách hàng. Trong hoạt động tư vấn pháp luật, không phải luật sư tìm đến với khách hàng mà khách hàng đến với luật sư. Khách hàng có quyền chọn luật sư hoặc công ty tư vấn pháp luật nào mà họ muốn, họ tin cậy. Khách hàng cũng có thể chọn một luật sư vì những mối quan hệ cá nhân như quen biết, qua giới thiệu,… Có thể nói, khách hàng đến với luật sư qua các kênh, như uy tín, kiến thức và chuyên môn, sách báo xuất bản, các bài giảng tại các Hội thảo khoa học, do sự giới thiệu của các khách hàng khác, khách hàng quen, quan hệ cá nhân tốt, qua tiếp xúc cá nhân, tổ chức, các cuộc thi hay sự phát triển của thị trường. Tuy vậy, luật sư cũng có quyền lựa chọn khách hàng và đây là điểm đầu tiên để quyết định sự thành bại của hoạt động tư vấn. Vậy khách hàng của bạn là ai? Trong thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật của Việt Nam thường có hai mối khách hàng: khách hàng Việt Nam và khách hàng nước ngoài.

I.1.1. Khách hàng Việt Nam Người Việt Nam (khách hàng Việt Nam) có tâm lý thắng thua trong kiện cáo. Khi bắt đầu việc kiện nhau họ thường tìm mọi cách để giành phần thắng về mình kể cả việc tìm luật sư giỏi để tư vấn. Đồng thời, người Việt Nam cũng có tâm lý chuộng hình thức, như các công ty thường mời những luật sư giỏi tư vấn cho mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng của công ty. Khi tiếp xúc với luật sư tư vấn, khách hàng Việt Nam thường biểu hiện dưới hai dạng sau đây: – Thứ nhất, mang nặng suy nghĩ chủ quan, luôn cho rằng mình đúng. Vì vậy khi tiếp xúc với luật sư, khách hàng tìm mọi cách để áp đảo, thuyết phục luật sư hiểu như mình, tức là khách hàng đang đúng. Có trường hợp khách hàng đúng, nhưng cũng không ít trường hợp khách hàng chủ quan nguỵ biện, ngộ nhận. Khi đó, luật sư phải giải thích, yêu cầu khách hàng trình bày một cách mạch lạc, cung cấp các thông tin cần thiết đối với việc cần tư vấn, trên cơ sở đó luật sư sẽ tiến hành các bước như tư vấn ở đoạn sau. – Thứ hai, biết sai, thậm chí có đầy đủ cơ sở chứng minh là sai nhưng vẫn cố tình bảo vệ cái sai của mình. Khách hàng trong trường hợp này muốn luật sư biến cái sai thành cái đúng, khai thác lợi ích từ những điểm, vấn đề sai đó để họ được lợi hoặc khách hàng nhờ luật sư tư vấn để khắc phục, nhằm giảm bớt tổn thất, giảm bồi thường thiệt hại do lỗi của họ gây ra. Ví dụ: Đối với các việc ly hôn có gắn liền với việc chia tài sản và con cái. Trước khi đưa vụ kiện ra Toà, khách hàng thường yêu cầu luật sư giúp họ bằng cách nào vừa ly hôn, được chia tài sản (không phải của mình) vừa được nuôi con. Trong trường hợp này, xét về mặt đạo đức nghề nghiệp, luật sư không được giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật. Luật sư tư vấn giúp họ giải toả được về mặt tâm lý, để họ thấy rằng pháp luật chỉ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, thực hiện những điều trái với pháp luật là trái với tư cách hành nghề của luật sư. Tuy vậy trong từng trường hợp cụ thể, luật sư tư vấn có thể giúp khách hàng của mình tận dụng các quy định của pháp luật để giảm bớt trách nhiệm cho họ.

I.1.2. Đối với khách hàng nước ngoài Khách hàng có thể là cá nhân nước ngoài hoặc các doanh nghiệp, các công ty, tổ chức nước ngoài thành lập và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Khác hàng nước ngoài thường là những người hiểu biết pháp luật, có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản lý và đầu óc tổ chức. Vì vậy, các yêu cầu của họ thường rõ ràng, rành mạch. Khác với khách hàng Việt Nam, họ ít khi yêu cầu luật sư Việt Nam tư vấn cho họ những điều trái với pháp luật, rất coi trọng hình thức và uy tín nghề nghiệp. Vì vậy, khi làm việc với họ, luật sư phải thể hiện bản lĩnh là người am hiểu pháp luật Việt Nam, có uy tín và thâm niêm trong nghề, là người bảo vệ quyền lợi cho khách hàng phù hợp với pháp luật Việt Nam. Khách hàng nước ngoài sẽ không hài lòng, nếu luật sư làm việc thông qua kinh nghiệm cá nhân hoặc lợi dụng mối quen biết để đi cửa sau. Để thu hút khách hàng nước ngoài, luật sư có thể tiến hành một số hoạt động sau: – Kỹ thuật tiếp thị: Là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong các quốc gia kinh tế thị trường. Các cơ quan tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thị trường thường bận bịu với công việc không có điều kiện tìm hiểu sâu sắc các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình, vì vậy để chiếm lĩnh thị trường luật sư cần phải tiếp thị và có thể thông qua một số hình thức như: Hội thảo, giới thiệu công ty tư vấn của mình bằng các cuốn sách nhỏ hoặc các tờ rơi hay làm tư vấn tại gia, tại cơ quan để củng cố quan hệ với khách hàng, tiếp đãi khách hàng -đây là cách thức quan trọng để tạo quan hệ, họp báo, quảng cáo… – Uy tín: Là phương tiện tiếp thị quý giá nhất, là yếu tố quan trọng nhất đối với khách hàng khi họ lựa chọn luật sư tư vấn. Tạo được uy tín tốt là luật sư đã có được một gia tài. Một hãng luật, công ty luật hoặc một luật sư có uy tín chắc chắn sẽ thu hút được những khách hàng tốt nhất và có cơ hội tham gia vào các giao dịch lớn nhất. Qua đó luật sư sẽ được tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm đồng thời thu hút được nhiều khách hàng. – Trung thực: Đừng bao giờ thiết lập kiểu quan hệ mua bán với khách hàng, Phải xây dựng quan hệ với khách hàng trên cơ sở chân thực, hợp tác, bền vững và hai bên đều có lợi. Phải để khách hàng thầy rằng, bạn (luật sư) hay công ty bạn là người làm ăn đứng đắn, đàng hoàng, không mang tích chất chộp giật, không lấy chuyện tiền bạc làm mục tiêu. Điều đó củng cố uy tín của bạn, tạo niềm tin cho khách hàng và duy trì được mối khách hàng thường xuyên cho bạn. – Tính kiên nhẫn: Đừng bao giờ tỏ ra sốt ruột, muốn tạo ngay một mối khách hàng rộng lớn. Khách hàng thường xuyên, rộng lớn, gắn bó với luật sư phải được hình thành qua thời gian. Khách hàng khi lựa chọn cũng phải thử thách. Hiệu quả của công việc, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, uy tín kết hợp với tính kiên nhẫn tạo nên sự thành công của luật sư.

 I.2. Thù lao và thanh toán chi phí Khách hàng Việt Nam hay khách hàng nước ngoài ngoài yếu tố chuyên môn vấn đề họ quan tâm là thù lao của dịch vụ. Cùng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ như nhau, khách hàng sẽ chọn luật sư hay công ty (hãng) luật có mức phí thấp. Tuy nhiên, giá thấp chưa phải là vấn đề quyết định mà chỉ là một yếu tố để khách hàng cân nhắc. Thông thường khi nhờ đến luật sư họ sẽ chủ động hỏi về các chi phí và khách hàng nước ngoài thù lao thường được coi là vấn đề nghiêm túc, thẳng thắn và sòng phẳng. Vì vậy, luật sư nên chủ động tính toán vấn đề chi phí với khách hàng nước ngoài, thông báo các chi phí cần thiết để họ chấp nhận hay không chấp nhận. Còn với khách hàng Việt Nam chưa quen với các vấn đề chi phí, nhiều khi không đặt vấn đề thù lao dịch vụ với luật sư mà thường chủ động dùng quà biếu để thay cho tiền dịch vụ. Đối với những dịch vụ có giá trị lớn luật sư tư vấn không được chấp nhận cách trả chi phí như trên. Hiện tại chưa có một văn bản nào chính thức quy định về chi phí mà khách hàng cần phải trả cho luật sư tư vấn. Các đoàn luật sư hay công ty luật có quy định, cách tính khác nhau về chi phí luật sư. Một số luật sư hành nghề độc lập cũng tự định giá cho khách hàng. Theo Điều 55 Luật Luật sư, mức thù lao và phương thức tính thù lao dựa trên các căn cứ: Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; kinh nghiệm và uy tín của luật sư; giờ làm việc; vụ, việc với mức thù lao trọn gói; vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án; hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định Ngoài các khoản thù lao, khách hàng có thể thoả thuận với luật sư về việc thanh toán tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện yêu cầu của mình. Việc thanh toán các khoản chi phí thực hiện theo các quy định của pháp luật về kế toán (Điều 56, 57, 58). Đối với những luật sư tư vấn làm việc với các khách hàng nước ngoài thông thường áp dụng cách tính thù lao như sau: – Mức thù lao theo giờ. Thông thường khi khách hàng tiếp xúc với bạn, sau khi đã nắm bắt được nội dung công việc luật sư tư vấn chủ động thông báo cho khách hàng số giờ cần phải thực hiện và số tiền phải trả cho mỗi giờ đó. – Mức thù lao hỗn hợp. Được tính theo giờ chung cho mọi luật sư tham gia cuộc giao dịch từ các luật sư lâu năm đến các luật sư mới vào nghề. Mức thù lao này căn cứ vào mức trả quy định chung cho mỗi luật sư, thời gian bỏ ra của từng luật sư cộng với một khoản tiền xê dịch lên xuống. Nhìn chung khách hàng thích trả tiền thù lao cho luật sư theo mức thù lao hỗn hợp vì họ biết rằng nếu có phát sinh vấn đề phức tạp trong giao dịch hoặc nếu công việc cần thêm thời gian của các luật sư lâu năm, thì họ vẫn phải chi trả cùng một mức thù lao hỗn hợp. – Lệ phí trần. Khách hàng thường tìm cách giảm tối thiểu các chi phí pháp luật trong tổng chi phí của một giao dịch để tăng khả năng cạnh tranh của mình và giảm tới mức thấp nhất thiệt hại nếu vụ việc không thành công. – Lệ phí cố định. Việc áp dụng giá cố định đối với những công việc nhất định ngày càng trở lên thông dụng. Một số khách hàng đã quen với mức lệ phí cố định theo quy mô của cuộc giao dịch. Lệ phí cố định giống như lệ phí trần, nhưng khác ở chỗ, lệ phí cố định khuyến khích luật sư tiến hành giao dịch và quản lý nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm tăng tối đa lợi nhuận. Khi lựa phương thức lệ phí cố định, phải cân nhắc nên thu lệ phí về việc gì, liệu lệ phí tính theo mức quy định chung cho các luật sư là thấp hay cao hơn mức tỉ lệ cố định nói trên. Phương thức tính lệ phí này thường gồm có một phần lệ phí cho việc hoạch định giao dịch ban đầu và thường áp dụng đối với các khách hàng lớn, quen biết hoặc các khách hàng thuộc dạng ưu tiên đặc biệt. Đối với cách tính này nên thoả thuận về khoản lệ phí cố định với các khoản lệ phí thoả thuận cho từng phần việc của giao Read the rest of this entry »

Theo BLHS sửa đổi, người sử dụng trái phép chất ma túy được xem như nạn nhân chứ không phải tội phạm. Trong ảnh: Học viên cai nghiện đang học nghề tại Trung tâm Nhị Xuân. Ảnh: HTD

Không phải đợi đến đầu năm sau mà ngay từ bây giờ sẽ có tử tù thoát án tử hình, nhiều bị can, bị cáo được trả tự do.

Tin vui cho rất nhiều bị can, bị cáo, bị án là sắp tới họ sẽ được đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhờ Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (gọi tắt là BLHS sửa đổi, Pháp Luật TP.HCM ngày 21-7 đã thông tin).

Ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP.HCM, đại biểu Quốc hội, khẳng định trong BLHS sửa đổi và Nghị quyết 33 của Quốc hội về thi hành luật này nói rõ các điều luật có lợi cho bị can, bị cáo, bị án sẽ áp dụng ngay sau khi Chủ tịch nước công bố luật chứ không phải đợi đến đầu năm 2010 (ngày BLHS sửa đổi có hiệu lực). Ngày 29-6, Chủ tịch nước ký lệnh công bố BLHS sửa đổi đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều người phạm tội được trả tự do, được thoát án tử hình… ngay chứ không chờ đến thời hạn 1-1-2010.

Tử hình còn chung thân

. Việc áp dụng các điều khoản có lợi trong BLHS sửa đổi đối với các tội danh được bỏ án tử hình ra sao, thưa ông?

+ Ông Bùi Hoàng Danh: Quốc hội đã bỏ án tử hình đối với tám loại tội. Như vậy, kể từ đầu tháng 7-2009 (sau khi Chủ tịch nước công bố luật), mức án cao nhất của tám loại tội này chỉ đến chung thân mà thôi, các cơ quan tố tụng sẽ không áp dụng hình phạt tử hình với họ nữa. Trường hợp tòa đã tuyên án tử hình với tám loại tội này mà chưa thi hành, chánh án TAND tối cao sẽ chuyển hình phạt tử hình xuống chung thân cho họ. Nói cách khác, bị án nào thuộc diện nêu trên mà chưa bị thi hành án thì sẽ thoát chết. Đây là nguyên tắc áp dụng có lợi cho người phạm tội.

Tội phạm thành nạn nhân

. Luật mới không xem người sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm nữa. Các cơ quan tố tụng sẽ xử lý những người đã lỡ sử dụng ma túy bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án như thế nào?

+ Trước đây, chúng ta xử lý hình sự người sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không nhiều nhưng đây là cách nhìn chưa chuẩn. Vì thế, trong lần sửa đổi này, chúng ta xem họ là nạn nhân chứ không phải tội phạm nên không xử lý hình sự nữa. Đây là cách nhìn nhân đạo của luật mới.

Với tinh thần của Nghị quyết 33, kể từ sau ngày 29-6, các cơ quan tố tụng sẽ không xử lý hình sự người sử dụng trái phép chất ma túy (có thể áp dụng biện pháp khác như đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục…). Trường hợp vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang tạm đình chỉ thi hành án thì họ được miễn chấp hành hình phạt còn lại, nếu chưa chấp hành hình phạt sẽ được miễn chấp hành. Nếu ai đó bị cơ quan tố tụng bắt chỉ vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì họ sẽ được trả tự do, xóa án tích. Và cần khẳng định là những trường hợp được trả tự do nói trên là do chuyển biến của tình hình chứ không phải họ bị oan.

Trộm cắp vặt lần đầu sẽ được tha

. Luật mới cũng nâng mức định lượng tiền một số tội liên quan đến tài sản. Nếu ai đó có hành vi phạm tội mà định lượng này chưa đủ theo luật mới sẽ giải quyết như thế nào? Read the rest of this entry »

Mỹ là một trong những nước đầu tiên ban hành luật về quấy rối tình dục. Người có hành vi tán tỉnh dai như đỉa trong khi đối tượng không đồng ý; dùng lời lẽ dâm ô với người đồng giới; đề cập đến chuyện phòng the đến nỗi đồng nghiệp bị phân tâm không làm việc được… đều có thể phải ra tòa. Mức bồi thường thiệt hại tối đa là 300.000 USD.

Một câu chuyện đùa về tình dục nếu cứ lặp đi lặp lại và gây khó chịu cho người khác giới khiến môi trường làm việc trở nên không thân thiện thì đó là hành vi quấy rối tình dục.

Theo đạo luật Quyền công dân Liên bang năm 1964 của Mỹ, quấy rối tình dục là một trong các hình thức phân biệt giới tính. Ủy ban Cơ hội việc làm công bằng liên bang định nghĩa: Quấy rối tình dục là thực hiện các hình vi như dùng lời ve vãn tình dục, yêu cầu quan hệ tình dục trái ý muốn của người khác, dùng cử chỉ, lời nói gợi ý về tình dục mà thái độ phục tùng hay phản đối của cá nhân được gợi ý có liên quan đến quyền lợi, công việc, môi trường lao động của cá nhân đó.

Tòa án Mỹ đã liệt kê cụ thể các hành vi quấy rối tình dục: lời nói ám chỉ đến tình dục lặp đi lặp lại nhiều lần, lời nói đùa khiêu dâm, lời bình luận hay cách ăn nói dâm dục; thư từ, và hình vẽ mang tính chất gọi dục; lời đề nghị quan hệ tình dục hoặc lời hăm dọa liên tục gây phiền hà người khác; trưng bày tranh ảnh, lịch khiêu dâm hay tài liệu tình dục ở nơi làm việc; các hành vi gây phiền hà hay ép buộc mang tính chất gợi dục như sờ mó, vỗ nhẹ, đụng chạm, véo, hôn hít, vuốt ve; gây sức ép công khai hay có ẩn ý đòi quan hệ tình dục, ép buộc quan hệ tình dục.

Các hành vi bị coi là quấy rối tình dục ở Mỹ

Hai vấn đề mấu chốt để xác định tội quấy rối tình dục là thái độ của nạn nhân bị quấy rối tình dục và tính chất gợi dục của hành vi quấy rối. Một người chỉ bị buộc tội quấy rối tình dục khi hành vi quấy rối gây phiền hà cho người bị quấy rối, và khi nạn nhân đồng tình chỉ vì muốn khỏi bị đối xử tệ trong công việc (chịu quấy rối tình dục để khỏi bị mất việc).

Có hai dạng quấy rối tình dục: Quấy rối tình dục có điều kiện trao đổi, tức là người sử dụng hoặc quản lý lao động căn cứ phản ứng của người lao động đối với hành vi quấy rối tình dục để nâng đỡ hoặc trù úm trong công việc. Quấy rối tình dục trong môi trường làm việc không thân thiện, môi trường làm việc được xem như không thân thiện khi hành vi quấy rối tình dục trở nên phổ biến, lặp đi lặp lại và nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến công việc của người bị quấy rối. Trong những trường hợp nêu trên, nạn nhân có thể kiện ra tòa và phải chứng minh bị tổn thương. Nhưng không cần chứng minh cụ thể hành vi quấy rối tình dục vì trong thực tế, người quấy rối tình dục thường nói bóng gió, ít khi nói thẳng hoặc ngụy biện, lấp liếm hành vi quấy rối tình dục. Read the rest of this entry »

Với chủ đề “Những lỗi nghiêm trọng người Việt Nam thường gặp khi tiếp đãi người Mỹ”, cuộc hội thảo diễn ra vào ngày 7/11 tại Trung tâm Giáo dục – Đào tạo và Hội thảo quốc tế FideS, có rất nhiều vấn đề về cung cách giao tiếp với doanh nhân Mỹ đã được đặt ra.

Theo đó, đôi lúc những sai lầm nhỏ vẫn có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng mà ít người nghĩ đến.

Người chủ trì hội thảo lần này là GS. David F. Day – một luật sư, giảng viên quốc tế giàu kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt trong việc đào tạo những nhà lãnh đạo, quản lý của Việt Nam hơn một thập niên qua, từ các chương trình MBA tại Hà Nội và Tp.HCM đến các buổi đào tạo chuyên sâu do Phòng Thương mại Hoa Kỳ và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam tài trợ.

Theo ông, hầu hết những sai lầm của người Việt trong giao tiếp kinh doanh với người Mỹ đều xuất phát từ các thói quen rất đỗi bình thường, thậm chí còn được xem là những nét văn hóa đẹp. Vì vậy, cần có sự nhìn nhận rõ ràng giữa điều thích làm và điều nên làm để tránh gặp rắc rối với các doanh nhân Mỹ, những người được đánh giá là rất thực tế và mau lẹ trong chuyện làm ăn.

Bản ghi nhớ, cần hay không?

Không khí chia sẻ kinh nghiệm cởi mở giữa GS. David Day và các doanh nhân tại buổi hội thảo

Với người Việt, các thương lượng đôi khi không dựa trên hợp đồng mà bằng cách tạo dựng các mối quan hệ, từ đó phát triển sự tin tưởng để làm ăn. Đa phần doanh nhân Việt chọn cách ký một bản ghi nhớ trước khi có được hợp đồng, bởi họ cần nhiều thời gian để xây dựng mối quan hệ. Riêng với người Mỹ, cái gọi là “bản ghi nhớ” không mấy có giá trị, bởi theo quan điểm của họ, tất cả các cuộc thương lượng phải được thể hiện bằng hợp đồng.

Theo GS. David F. Day, nước Mỹ luôn xem trọng văn bản và từ ngữ. Ở một đất nước mà bản Tuyên ngôn độc lập (năm 1774) được để trang trọng và bảo vệ cẩn mật trong khung kính chống đạn, mỗi văn bản khi ra đời được truyền hình quay cận cảnh để đảm bảo tính xác thực thì trong đời thường, việc giao tiếp cũng dễ bị bắt bẻ từng từ. Trên thực tế, các luật sư Mỹ rất thích thú khi làm việc với từ ngữ, càng nhiều từ càng tốt, nên hợp đồng luôn thể hiện tính chi tiết rất cao.

Doanh nhân Mỹ sử dụng hợp đồng và hợp đồng mẫu như một cách tự bảo vệ bằng pháp lý. Luật pháp Mỹ cũng đủ mạnh để bảo vệ tính hợp pháp của các hợp đồng nên có thể nói hợp đồng là thứ văn bản có hiệu lực pháp lý rất cao. Việc tạo dựng quan hệ thân thiết hay các thủ pháp xoa dịu tinh thần với họ hầu như không cần thiết vì đã ký thì cứ y theo hợp đồng mà làm.

Thỏa thuận lòng vòng

Trong giao tiếp, người Mỹ có xu hướng nói to, thích nhìn thẳng vào người đối diện và hay đòi hỏi quyền lợi một cách công khai. Sự thẳng thắn này đôi lúc bị nhiều đối tác châu Á, thậm chí cả người châu Âu cho là thiếu tế nhị.

Nhưng đó thật sự là phong cách Mỹ. Họ luôn thúc đẩy cuộc thương lượng đến chỗ kết thúc một cách mau chóng nhất, vì vậy cách làm việc tốt nhất là nên đi thẳng vào vấn đề cũng như đừng mất nhiều thời gian cho các thủ tục giấy tờ. “Make it snappy!” (Nhanh lên!), “What are we waiting for” (Còn chờ gì nữa?), “Jump to it” (Nhào vô!) là những câu cửa miệng của người Mỹ vì bỏ phí thời giờ tức là phí cuộc sống.

Trong các buổi đàm phán thương mại, cách đặt vấn đề của người Việt rất dễ tiệm cận với phong cách của người Mỹ (dù đi lòng vòng nhưng người Việt có thể nhìn thẳng vào vấn đề bất cứ khi nào). Vì vậy, nếu tránh được việc quanh đi quẩn lại với những vấn đề râu ria (được xem là cách thăm dò ý tứ hoặc gợi ý tế nhị của nhiều quốc gia châu Á) thì những thỏa thuận rất dễ đạt được. Read the rest of this entry »

TRỊNH TIẾN VIỆT Khoa luật ĐH quốc gia Hà Nội

Điều 45 Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Như vậy, luật quy định các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ cần thiết để Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt. Do đó, việc nghiên cứu khái niệm, đặc điểm và vai trò của các tình tiết giảm nhẹ đến việc quyết định hình phạt có ý nghĩa lý luận – thực tiễn và pháp lý rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và vấn đề trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội, cũng như thể hiện rõ nội dung của phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục” trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. 1. Khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hiện nay, trong pháp luật hình sự thực định nhà làm luật nước ta không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm này1. Theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm này có thể hiệu như sau: Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hay do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, đồng thời là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt. 2. Đặc điểm của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Xuất phát từ khái niệm đã nêu trên và phân tích các quy định của BLHS năm 1999 có liên quan đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chúng ta có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản dưới đây của chúng. – Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Tòa án cân nhắc trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội không những: a) được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự thực định (khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999); b) được ghi nhận trong văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật (Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng một số quy định về Phần chung của BLHS năm 1999) mà còn; c) trong quá trình xét xử, Tòa án tự xem xét, cân nhắc những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ghi rõ lý do trong bản án. Tuy nhiên, đối với nhóm tình tiết này, chúng được áp dụng chỉ trong những trường hợp cụ thể, với những người phạm tội cụ thể và trong vụ án cụ thể mà Tòa án đang xem xét. Điều này khác biệt so với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Tòa án nhất thiết không được áp dụng những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ngoài những tình tiết được quy định trong khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. – Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Tòa án cân nhắc, xem xét trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội là tình tiết phản ánh các đặc điểm thuộc về mặt khách quan, về mặt chủ quan hoặc về nhân thân người phạm tội. Nó có vai trò nhằm mô tả rõ nét hơn hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, qua đó làm căn cứ đánh giá chính xác và đầy đủ mức độ nguy hiểm cho xã hội (theo hướng giảm nhẹ hơn) không chỉ của hành vi phạm tội mà còn cả của nhân thân người phạm tội nữa. – Trường hợp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được luật quy định với tính chất là yếu tố định tội đối với một tội phạm tương ứng cụ thể, thì trong việc quyết định hình phạt, Tòa án nhất thiết không thể xem xét nó với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. – Trường hợp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết được luật quy định với tính chất là yếu tố định khung hình phạt đối với một tội phạm tương ứng cụ thể, thì trong việc quyết định hình phạt, Tòa án nhất thiết không thể xem xét nó với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. – Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể là tình tiết trực tiếp liên quan đến việc phạm tội, song cũng có những tình tiết khác mặc dù không trực tiếp liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn biện pháp xử lý đối với người phạm tội. Sự hiện diện của những tình tiết đó có thể phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội. – Luật không quy định cụ thể các tình tiết giảm nhẹ có vai trò (ảnh hưởng) đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội như thế nào mà trao quyền đánh giá, phán xét này cho Tòa án. Điều này thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt, hợp lý và tính xác định tương đối của luật. Tuy nhiên, sự đánh giá của Tòa án không phải là vô hạn mà chỉ trong những phạm vi (giới hạn) xê dịch cụ thể, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định và những căn cứ khác. Trên cơ sở đánh giá tổng hợp này, Tòa án mới có thể ra phán quyết đúng đắn, công minh, có căn cứ và đúng pháp luật. Và hơn nữa, khi đó Tòa án mới có thể quyết định loại và hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và của cả nhân thân người phạm tội. 3. Ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 có liên quan đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn, chúng ta có thể nhận thấy vai trò của chúng trong việc quyết định hình phạt ở một số bình diện dưới đây. – Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa làm cho tội phạm đã thực hiện và nhân thân của người phạm tội ít nguy hiểm hơn so với những trường hợp phạm tội mà không có tình tiết giảm nhẹ đó, đồng thời khi có nó người phạm tội được Tòa án áp dụng loại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn Read the rest of this entry »

Bước 1: Xác định điều kiện khởi kiện:

1. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Việc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử là việc rất quan trọng, trong mỗi vụ án việc xác định thẩm quyền theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2003.

a/ Xác đinh vụ việc có thuộc một trong các loại việc quy định tại Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS;

b/ Xác định vụ việc đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 33, 34, 35, 36, 37 BLTTDS.

2. Xác định về thời hiệu khởi kiện:

Việc xác định thời hiệu  khởi kiện rất quan trọng, đánh giá về việc người khởi kiện còn đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật hay không. Việc xác định thời hiệu khởi kiện dựa vào thời điểm phát sinh tranh chấp để tính thời hiệu:

Tính thời hiệu đối với vụ án dân sự:

- Nếu tranh chấp phát sinh trước ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày 1/1/2005;

- Nếu tranh chấp phát sinh kể từ ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ thời điểm quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.

Tính thời hiệu đối với vụ việc dân sự:

- Nếu quyền yêu cầu phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hiệu yêu cầu là 1 năm kể từ ngày 1/1/2005;

- Nếu quyền yêu cầu phát sinh từ ngày 1/1/2005 thì thời hiệu yêu cầu là 1 năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.

Việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu đối với vụ việc dân sự nếu pháp luật đã có quy định về thời hiệu khác với quy định tại Điều 159 BLTTDS thì áp dụng theo thời hiệu của luật chuyên ngành còn nếu không quy định thì áp dụng cách tính thời hiệu theo quy định của BLTTDS.

3. Xác định về các điều kiện khác:

Một số vụ án, vụ việc dân sự phải xác định các điều kiện khác như: Điều kiện về hào giải tại cơ sở, yêu cầu đã được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay chưa.

* Đối với các vụ án mà theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải thông qua hòa giải tại cơ sở thì trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết phải tiến hành hòa giải và có yêu cầu hòa giai tại cơ sở.

Ví dụ:

- Đối với vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất: thì các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 135, 136 Luật đất đai 2003 phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tranh chấp; Read the rest of this entry »

Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ. Tòa án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ để từ đó rút ra các chứng cứ cần thiết để sử dụng vào việc tìm ra sự thật vụ án và đưa ra quyết định đúng đắn để giải quyết vụ việc dân sự đó.

 Theo quy định tại điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì nguồn chứng cứ được quy định như sau:

“Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

  1. 1.     Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
  2. 2.     Các vật chứng;
  3. 3.     Lời khai của đương sự;
  4. 4.     Lời khai của người làm chứng;
  5. 5.     Kết luận giám định;
  6. 6.     Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
  7. 7.     Tập quán;
  8. Kết quả đánh giá tài sản;
  9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”

Với quy định này thì nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự chỉ được quy định trong 8 nguồn chính. Ngoài 8 nguồn chứng cứ này Tòa án không được sử dụng thêm bất cứ nguồn nào khác để thu thập làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Tại khoản 9 điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Các nguồn khác mà pháp luật có quy định” cần được hiểu đây là một quy định dự phòng của pháp luật chứ không phải là một quy định mở để Tòa án áp dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án. Do vậy, cho đến khi pháp luật có quy định thêm một nguồn chứng cứ nào đó thì Tòa án chỉ được phép thu thập chứng cứ theo qui định từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 82 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Tuy nhiên, không phải bất cứ tài liệu, dữ kiện nào được thu thập từ các nguồn chứng cứ cũng đều được xem là chứng cứ và được sử dụng vào việc giải quyết vụ án mà các tài liệu, dữ kiện này phải đảm bảo được các thuộc tính cơ bản của chứng cứ, đồng thời phải phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự về xác định chứng cứ.

Ví dụ: biên bản ghi lời khai của đương sự là một nguồn chứng cứ nhưng có những trường hợp toàn bộ lời khai đó là gian dối, bịa đặt thì lời khai đó không được coi là chứng cứ của vụ án.

Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể về điều kiện xác định chứng cứ trong các nguồn chứng cứ như sau :

“1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;

2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;

3. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;

4. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;

5. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định;

7. Tập quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận;

8. Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp theo quy định tại khoản 1 Điều này.”

Với quy định này của điều luật chúng ta thấy rằng : đối với loại nguồn chứng cứ là các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được khi có chứa đựng chứng cứ của vụ án; nếu là tài liệu đọc được nội dung thì phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cung cấp, xác nhận; nếu là loại tài liệu nghe được, nhìn được (như băng đĩa ghi âm, ghi hình) thì phải xuất trình được văn bản xác nhận về xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, ghi hình đó; có như vậy thì các tài liệu đó mới được coi là có giá trị và được sử dụng làm chứng cứ chứng minh trong vụ án.

Đối với loại nguồn chứng cứ là vật chứng : vật chứng được pháp luật quy định là nguồn chứng cứ vì tồn tại trong chính bản thân nó là chứng cứ của vụ án, nó chỉ chứa đựng chứng cứ chứ nó không phải là chứng cứ.

Ví dụ : A kiện B đòi bồi thường chiếc xe bị hư – ở đây chiếc xe bị hư là vật chứng còn những hư hỏng của xe là chứng cứ. Read the rest of this entry »

Th.S Phạm Văn Be –  Th.S, LS Bùi Quang Nhơn

 Hình sự hoá (penalisation) là việc quy định hình phạt hay việc xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện áp dụng hình phạt đối với loại tội phạm này hay tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự. Hình sự hoá chỉ diễn ra ở giai đoạn xây dựng pháp luật chứ không diễn ra ở giai đoạn áp dụng pháp luật. Và, theo nguyên tắc pháp chế, hiện nay Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận nguyên tắc “tương tự” pháp luật, khi đó chỉ có Quốc hội mới có quyền tiến hành hoạt động “hình sự hoá”. Quan điểm này đã trở thành quan điểm chính thống trong các tác phẩm lý luận Luật hình sự ở Việt Nam (xem Tội phạm học, Luật hình sự và Luật Tố tụng hình sự Việt Nam – Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật – Nxb Chính trị Quốc gia 1994, tr.124; Đào Trí Úc – Luật hình sự Việt Nam (quyển 1) Những vấn đề chung – Nxb Khoa học xã hội 2000, tr.85).

Tuy nhiên, trong giới báo chí cũng như nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay đã cho ra một cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” với nghĩa hoàn toàn độc lập với ý nghĩa ban đầu của “hình sự hoá”. Theo đó, cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” dùng để mô tả hiện tượng dùng biện pháp hình sự để giải quyết các vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh tế chưa đến mức cấu thành tội phạm. Điều này dẫn đến hậu quả oan sai trong tố tụng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Sự xuất hiện của cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” ở Việt Nam có thể được xem là một hiện tượng về ngôn ngữ bắt nguồn từ yêu cầu cấp thiết phản ánh một hiện tượng tiêu cực của nền tư pháp nước nhà. Nếu bạn là người có quan tâm đến đề tài này, bạn có thể thấy rằng “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” diễn ra rất đa dạng bao gồm cả trong các giao dịch nội địa lẫn các giao dịch có yếu tố nước ngoài; người có hành vi vi phạm bị “hình sự hoá” (sau đây được hiểu là  “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”) không chỉ là người Việt Nam mà còn có cả người nước ngoài; hành vi “hình sự hoá” của các cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ dừng lại ở việc điều tra, truy tố, xét xử mà còn cả trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản…

Hoạt động ngân hàng là một hoạt động đặc thù nhưng cũng được tiến hành thông qua các giao dịch “dân sự”, “kinh tế”. Vì thế, “hình sự hoá” cũng có thể xảy ra trong khi giải quyết tranh chấp về các giao dịch trong các hoạt động ngân hàng. Do đó, trong nội dung bài viết này, chúng tôi đề cập đến vấn đề ““hình sự hoá” nói chung trong đó bao gồm cả các giao dịch trong hoạt động ngân hàng.

Trước tiên, chúng ta xem một ví dụ. Đây là một vụ án trong số nhiều vụ án bị “hình sự hoá”. Đó là vụ án của Bạch Minh Sơn (Giám đốc Công ty cổ phần BAMEX) bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” (Điều 135 Bộ luật hình sự 1985) (xem Tạp chí Kiểm sát số 1+2/1999):

Ngày 30/11/1993, ông Bạch Minh Sơn ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công đoàn Ngân hàng ngoại thương Trung ương. Theo hợp đồng, Ngân hàng góp vốn để công ty ông Sơn mua nguyên vật liệu tổ chức sản xuất tấm lợp cót ép xuất khẩu, tỷ suất chia lợi nhuận là 50/50. Trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng, ông Sơn đã nhận 6 tỷ đồng của Ngân hàng và dùng vào việc sản xuất. Khi thanh lý hợp đồng, ngày 30/7/1995, ông Sơn chỉ mới trả được 650 triệu và còn nợ trên 5 tỷ đồng ông Sơn không có khả năng trả nợ. Ngoài ra, năm 1989, ông Sơn còn nhận của Bảo Việt Nhân Thọ 200.000 USD tiền vốn với hình thức liên doanh để sản xuất tấm lợp, sau không có khả năn thanh toán. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán xác định tài sản của công ty của ông Sơn còn trị giá 12 tỷ đồng. Vụ việc bị phát hiện, ông Sơn bị cơ quan điều tra thành phố Hà Nội khởi tố về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN” (Điều 135 Bộ luật hình sự 1985). Sau khi Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa vụ án ra xét xử và áp dụng khoản 2 Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 kết luận Sơn vô tội tại bản án hình sự sơ thẩm số 165/HSST với lý do dù Sơn chưa trả được nợ nhưng tài sản của Sơn còn đủ để thanh toán nợ. Ngày 26/11/1998, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã kháng nghị bản án này. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã rút toàn bộ kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội và Toà phúc thẩm đình chỉ vụ án.

Thực tế cho thấy, hành vi vi phạm bị đánh giá sai bản chất pháp lý và “hình sự hoá” thường là hành vi không trả được nợ (vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ). Loại tội danh thường áp dụng trong khi “hình sự hoá” là tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”(Điều 135, 158 Bộ luật hình sự 1985, 140 Bộ luật hình sự hiện hành). Cá biệt cũng có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 134, 134a, 157 Bộ luật hình sự 1985, 139 Bộ luật hình sự hiện hành) (chẳng hạn vụ án của Terry Lee – Daso, xem Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ngày 3/10/2000). Read the rest of this entry »

NGUYỄN XUÂN TẾ

PGS. TS Khoa học chính trị, Trưởng phòng NCKH&HTQT- ĐH Luật TP.HCM

Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ với nhau. Tình hình thời sự đang diễn ra hàng ngày trên thế giới đã chứng minh tầm nhìn xa, trông rộng của Đảng ta trong việc dự đoán sự phát triển của thế giới hiện đại. Ngay cả những sự kiện đã và đang diễn ra (mà gần đây nhất là vấn đề Tây Nguyên các ngày 10/4, 11/4) càng làm cho chúng ta phải mài sắc ý chí cảnh giác cách mạng, phá vỡ âm mưu thâm độc của những lực lượng thù địch câu kết giữa những kẻ phá rối trong nước và thế lực phản động ở ngoài nước.

Chính vì thế, việc xử lý tình huống chính trị, trong đó có xử lý các điểm nóng chính trị– xã hội, cần phải được xây dựng thành lý thuyết, khái quát thành những qui trình, giúp cho các nhà hoạt động chính trị có bản lĩnh trong cuộc sống và có nghệ thuật xử lý thành thạo những vụ việc xảy ra trong thực tiễn. Hoạt động chính trị là một lĩnh vực đặc thù, nó vừa là sự kết hợp sự từng trải kinh nghiệm sống, là nghệ thuật xử lý tình huống, nhưng cũng lại là khoa học. V.I Lê-nin đã từng căn dặn: chính trị phải được thụ thai từ khoa học.

Với tinh thần cầu thị, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết, đặc biệt là đi khảo sát và tổng kết thực tiễn. Địa phương đầu tiên mà chúng tôi tiếp cận là Tây Nguyên. Kịch bản sự kiện ngày 10/4, 11/4 vừa qua xảy ra ở Tây Nguyên càng khắc đậm những đặc điểm của điểm nóng chính trị- xã hội ở địa phương này năm 2001. Tiếp đó là An Giang; sở dĩ chúng tôi chọn An Giang vì đây là nơi đặc trưng cho tình hình người Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long.

Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi về đề tài xử lý điểm nóng chính trị- xã hội nhằm:

- Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận về xử lý tình huống chính trị- xã hội. Làm rõ các khái niệm tình huống chính trị, điểm nóng xã hội, điểm nóng chính trị- xã hội và sự chuyển hóa của chúng.

- Khảo sát thực tế, xác định những nguyên nhân khách quan, chủ quan. Từ đó tìm ra được qui trình giải pháp giải quyết điểm nóng chính trị- xã hội. Hay nói cách khác là tổng kết thực tiễn, đúc rút bài học xử lý tình huống chính trị ở từng địa bàn.

- Trên cơ sở đó giúp cho người cán bộ lãnh đạo chính trị có nhận thức đúng và biết cách xử lý khi điểm nóng chính trị- xã hội xảy ra hoặc khả năng chủ động phòng ngừa để không xảy ra các tình huống chính trị.

A. MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN1

I. KHÁI NIỆM TÌNH HUỐNG CHÍNH TRỊ, ĐIỂM NÓNG XÃ HỘI, ĐIỂM NÓNG CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI

1. Tình huống chính trị

Chính trị là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người. Nếu trong điều kiện bình thường thì hoạt động của các chủ thể cầm quyền sẽ diễn ra theo qui trình: ra quyết định, triển khai thực hiện, tổng kết, rút kinh nghiệm và chuẩn bị ra quyết định mới… Các quá trình sau lại tiếp tục diễn ra như vậy. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải lúc nào các chủ thể cầm quyền cũng tuân theo một qui trình như vậy mà trong quá trình triển khai các bước, họ có thể còn gặp phải những trở ngại như các hiện tượng: nhân dân khiếu kiện, biểu tình chống đối; lực lượng phản động gây bạo loạn; bản thân các chủ thể cầm quyền thoái hoá, biến chất, chia bè cánh chống đối lẫn nhau…; trong những điều kiện nhất định có thể dẫn đến tình huống thiếu chủ thể cầm quyền…. Những hiện tượng này gây nên sự bất ổn về mặt chính trị- xã hội hoặc có khả năng trực tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị- xã hội, đòi hỏi phải áp dụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết.

Như vậy, tình huống chính trị là những sự kiện, biến cố không bình thường, diễn ra trong đời sống chính trị- xã hội, gây nên sự bất ổn định hoặc có khả năng trực tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị- xã hội, đòi hỏi con người phải áp dụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết.

Tình huống chính trị thường gắn với sự khủng hoảng chính trị. Đây cũng là thời điểm, hoàn cảnh dễ nảy sinh xung đột, rối loạn xã hội, có nguy cơ đe dọa đến sự ổn định bền vững của chế độ. Tình huống chính trị còn là những bùng phát gây bất lợi về chính trị trong một phạm vi nhất định.

Tình huống chính trị có thể trực tiếp nảy sinh trong lĩnh vực chính trị như những mâu thuẫn giữa các lực lượng ngay trong bộ máy cầm quyền, sự chống đối của các thế lực trong và ngoài nước; sự chống đối của nhân dân với những người nắm giữ quyền lực, các cơ quan quyền lực và thể chế chính sách của nhà nước. Chẳng hạn, khi kinh tế khủng hoảng, trì trệ có thể dẫn đến sự bất ổn về mặt chính trị. Những vấn đề dân tộc, tôn giáo nếu không có giải pháp đúng cũng có thể dẫn đến những xung đột về chính trị. Read the rest of this entry »

TRẦN V ĂN ĐỘ

PGS-TS, Tòa án Quân sự Trung ương

1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:

- Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;

- Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng. Hơn ở đâu hết, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng được quy định và được đảm bảo thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, ép cung, dùng nhục hình v.v…;

- Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật. Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án;

- Thứ tư, phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Thông qua thủ tục tại phiên tòa, việc điều tra công khai, việc tranh luận và đặc biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình, tòa án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa nâng cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin vào pháp luật để từ đó không chỉ tự nguyện tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật v.v. Read the rest of this entry »

Chúng Tôi Là…

Tài nguyên Trong Tháng…

Liên kết Blogger khác


Blog Tôi Học Luật

Lưu trữ

MỖI NGÀY, TA CHỌN MỘT NIỀM VUI…

Tháng Hai 2010
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 7    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728

Một Thời Đèn Sách.

Lượt truy cập

  • 2,803 người đã ghé thăm

Online

Views from 23/06/09 (VIE, US. Other)

free counters

THỜI TIẾT CÁC KHU VỰC

– Hà nội –

- Tp. Hồ Chí Minh –

Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh